30/11/2025
🌪️ RỐI LOẠN TƯ DUY
Trên cơ sở quá trình tri giác, tư duy đi sâu phân tích những thuộc tính bản chất bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Do vậy, tư duy là quá trình nhận thức cao hơn tri giác. Tư duy có khả năng phản ánh gián tiếp, khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ bản chất của sự vật hiện tượng.
VD: Tri giác cho ta biết mặt trời mọc hướng đông và lặn ở hướng tây, tư duy cho ta nhận biết được trái đất quay xung quanh mặt trời. ☀️🌍
Quá trình tư duy bao gồm nhiều thao tác như: phân tích và tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá, cụ thể hoá, phân loại, hệ thống hoá. Kết quả của các quá trình này biểu hiện ra bề ngoài bằng các hình thức như: khái niệm, phán đoán, suy luận.
1. Rối loạn hình thức tư duy (rối loạn ngôn ngữ) 🧠🗣️
1.1. Theo nhịp điệu ngôn ngữ
1.1.1. Nhịp nhanh:
Tư duy phi tán: liên tưởng mau lẹ, chủ đề luôn thay đổi, nội dung nông cạn, bệnh nhân nói thao thao bất tuyệt, việc nọ suy ra việc kia.
Ví dụ: bệnh nhân nói:
"Sức khoẻ tôi rất tốt. Những câu thi bóng đá của chúng ta thắng đội khách. Đoàn kết và luyện tập. Mặt trời, nước và không khí trong suốt..."
Thường gặp trong hưng cảm. 😊
Tư duy dồn dập: ý nghĩ đủ các loại, ngoài ý muốn, dồn dập đến với bệnh nhân làm bệnh nhân rất khó chịu.
Thường gặp trong tâm thần phân liệt.
Nói hổ lốn: nói luôn mồm, ý tưởng linh tinh, nội dung vô nghĩa.
1.1.2. Nhịp chậm:
Tư duy chậm chạp: dòng ý tưởng chậm, suy nghĩ khó khăn, phải mất một thời gian lâu sau mỗi câu hỏi bệnh nhân mới trả lời được. Thường gặp trong trầm cảm. 😔
Tư duy ngắt quãng: đang nói chuyện, dòng ý tưởng như bị cắt đứt làm bệnh nhân không tiếp tục nói được nữa, mãi lâu sau lại tiếp tục về chủ đề khác. Gặp trong tâm thần phân liệt.
Tư duy lai nhai: bệnh nhân khó chuyển chủ đề, luôn đi vào những chi tiết vụn vặt của một vấn đề.
Gặp trong động kinh.
Tư duy kiên định: luôn luôn lặp lại một chủ đề. Gặp trong hội chứng paranoia.
1.2. Theo hình thức phát ngôn
1.2.1. Nói một mình:
Nói rõ ràng hay lẩm bẩm một mình, nội dung không liên quan tới hoàn cảnh xung quanh.
Gặp trong giai đoạn cuối của tâm thần phân liệt.
1.2.2. Nói tay đôi tưởng tượng:
Nói chuyện, tranh luận với ảo thanh hay với nhân vật tưởng tượng.
Gặp trong loạn thần do stress, tâm thần phân liệt. 🎭
1.2.3. Không nói:
Do nhiều nguyên nhân như: trầm cảm, phủ định, lú lẫn và sa sút, liệt chức năng cơ quan phát âm, hoang tưởng và ảo giác chi phối, tổn thương thực thể ở não.
Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt.
1.2.4. Trả lời bên cạnh:
Nội dung trả lời của bệnh nhân không liên quan đến câu hỏi. Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt.
1.2.5. Nói lặp lại:
Luôn nói lặp lại một số từ hoặc một câu, không ai hỏi cũng nói.
1.2.6. Đáp lặp lại:
Với tất cả các câu hỏi khác nhau bệnh nhân đều trả lời bằng một câu như nhau.
1.2.7. Nhại lời:
Hỏi bệnh nhân không trả lời mà chỉ nhắc lại câu hỏi.
Nói lắp lại, đáp lặp lại, nhại lời gặp trong hội chứng căng trương lực.
1.2.8. Cơn xung động lời nói:
Bệnh nhân đột nhiên chửi rủa, nói tục hoặc nói những câu vô nghĩa.
Gặp trong tâm thần phân liệt.
1.3. Theo kết cấu ngôn ngữ
1.3.1. Rối loạn kết âm và phát âm 🎤
Nói khó, nói thì thào, nói lắp, nói giọng mũi, giọng nước ngoài, giọng địa phương, tiếng kỳ sinh (vừa nói vừa khụt khịt).
1.3.2. Rối loạn ngữ pháp và logic của tư duy
Ngôn ngữ phân liệt: từng câu có thể đúng ngữ pháp và có ý nghĩa nhưng giữa các câu mất logic và không có ý nghĩa.
Gặp trong tâm thần phân liệt giai đoạn cuối.
Ngôn ngữ rời rạc không liên quan: bệnh nhân nói những từ, những câu rời rạc, không liên quan với nhau.
Gặp trong hội chứng lú lẫn.
Đảo ngữ pháp: đảo lộn các thành phần trong câu.
Ví dụ: dùng trạng từ chỉ địa điểm thay cho trạng từ chỉ thời gian, đảo lộn vị trí chủ ngữ – vị ngữ, cắt cụt câu…
Gặp trong tâm thần phân liệt.
Chơi chữ: các câu nói tiếp theo nhau theo vần, điệu, câu vô nghĩa.
VD: hoà bình, dũng mạnh, dũng mỉnh, đi mọt mỉnh, đi nhanh, hải lá chanh...
Gặp trong hội chứng hưng cảm, tâm thần phân liệt.
Đặt tiếng nói riêng: bệnh nhân tự nói bằng tiếng nói riêng, chỉ mình bệnh nhân hiểu được.