31/10/2025
PRP TRONG ĐIỀU TRỊ NÁM DA
Nám da là một bệnh sắc tố phổ biến, mãn tính, hay tái phát với cơ chế bệnh sinh chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn và có những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống về mặt thẩm mỹ. Nguyên nhân gây nám da rất phức tạp, và các nghiên cứu liên quan đã chỉ ra rằng tia cực tím, nồng độ estrogen, tăng sản mạch máu, viêm da, mang thai, sử dụng một số loại thuốc là những yếu tố tác động gây nám da.
Nám da cũng rất “cứng đầu” và dễ tái phát, nên nhiều phương pháp điều trị khác nhau đã được thử, nhưng thường cho kết quả không nhất quán. Tẩy trắng tại chỗ là một phương pháp điều trị phổ biến, nhưng thường không đủ hiệu quả. Điều trị bằng ánh sáng xung cường độ cao hoặc tia laser đã cho thấy kết quả trái ngược nhau và có một số tác dụng phụ, chẳng hạn như tăng sắc tố, đỏ da. Các phương pháp khác như peel da, thuốc dùng đường toàn thân đều có những tác dụng phụ nhất định. Và đã từ lâu các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nám da là một bệnh không chỉ bao gồm các tế bào hắc tố mà còn liên quan đến vấn đề lão hóa da. Do đó, các liệu pháp thông thường chỉ tập trung vào melanosome hoặc tế bào hắc tố có thể không đủ để loại bỏ bệnh.
Phương pháp điều trị bằng huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) gần đây đã nổi lên như một phương pháp điều trị nám da mới khắc phục được khá nhiều các nhược điểm nói trên của các phương pháp điều trị cũ.
Cơ chế của PRP trong điều trị nám da
PRP - huyết tương giàu tiểu cầu được tạo ra sau khi ly tâm loại bỏ hồng cầu, có thể là cả bạch cầu và 1 phần huyết tương nghèo tiểu cầu. Trong tiểu cầu có các loại hạt có nhiều chức năng quan trọng, trong đó có hạt anpha. Cơ chế làm sáng da của PRP đó là giải phóng các hạt alpha nội bào của tiểu cầu trong đó có các yếu tố tăng trưởng khác nhau như yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầu, yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF), yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu, yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi và TGF-β:
+ Người ta thấy rằng TGF-β1 phát huy tác dụng của nó bằng cách làm giảm hoạt động của MITF(MITF là một yếu tố phiên mã (yếu tố điều hòa) quan trọng trong việc điều chỉnh sự phát triển và chức năng của các tế bào hắc tố, chịu trách nhiệm sản xuất melanin. Nó hoạt động bằng cách kiểm soát biểu hiện của các gen liên quan đến quá trình hình thành sắc tố, sự tồn tại của tế bào hắc tố và các chức năng khác của tế bào), do đó làm giảm tổng hợp Tyrosinase và các protein liên quan đến tyrosinase 1 và 2. Do đó làm giảm quá trình hình thành melanin.
+ EGF được thấy là làm giảm sản xuất melanin trong tế bào hắc tố bằng cách ức chế biểu hiện prostaglandin E2(Prostaglandin E2 (PGE2) đóng vai trò quan trọng trong việc làm sạm da (nám) bằng cách kích thích tổng hợp melanin sau khi da bị tổn thương bởi ánh nắng mặt trời. Cụ thể, ánh nắng UV làm tăng hoạt động của plasmin, dẫn đến việc tăng tổng hợp axit arachidonic (AA), và từ đó gia tăng sản xuất PGE2 trong tế bào sừng. PGE2 tiếp tục thúc đẩy quá trình tổng hợp melanin, làm cho các đốm nám trở nên đậm màu hơn) và hoạt động của enzyme tyrosinase.
+ PDGF, được tìm thấy trong PRP, mang lại “độ bóng” cho da bằng cách tham gia vào quá trình hình thành mạch máu, tổng hợp collagen và hình thành axit hyaluronic.
+ Người ta còn cho rằng tác dụng chữa lành của PRP trong nám da không chỉ liên quan đến quá trình chuyển hóa sắc tố mà còn liên quan đến nhiều chức năng sửa chữa, tác dụng kháng khuẩn hoặc chống viêm và chức năng tái cấu trúc mạch máu trong da.
Các yếu tố tăng trưởng trong tiểu cầu nhìn chung cùng tham gia cả vào quá trình điều chỉnh hình thành sắc tố và sửa chữa, tái tạo lại làn da, làm giảm khả năng tạo sắc tố trở lại ở những vùng này.
Một số bằng chứng sử dụng PRP trong điều trị nám
Huyết tương giàu tiểu cầu tiêm trong da để điều trị nám da: Đánh giá lâm sàng ở làn da sẫm màu[1]
Phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu tiền cứu trên 20 bệnh nhân nữ có loại da Fitzpatrick IV–V(tuýp da phổ biến ở Châu Á) với tình trạng nám hỗn hợp và tổn thương cả hai bên mặt đã được tuyển chọn cho nghiên cứu. PRP được tiêm trong da trong ba lần điều trị mỗi lần cách nhau 4 tuần, và kết quả được đánh giá lâm sàng (bằng cách theo dõi diện tích nám và mức độ nám) và soi da. Bệnh nhân được tư vấn để đảm bảo các biện pháp chống nắng nghiêm ngặt.
Kết quả: Sau liệu pháp PRP, nhận thấy điểm số mMASI(Chỉ số mASI - Melasma Area and Severity Index, là một thang điểm dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng và diện tích của nám da, được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu lâm sàng và để theo dõi hiệu quả điều trị. Chỉ số này được tính toán dựa trên ba yếu tố chính là diện tích vùng da bị nám (A), mức độ đậm (D) và mức độ đồng nhất của tăng sắc tố (H)). Điểm MASI càng giảm cho thấy liệu trình điều trị nám càng hiệu quả) trung bình giảm đáng kể về mặt thống kê ở tất cả các lần khám so với ban đầu. mMASI giảm 77% ở nám da nhẹ, mMASI giảm 52% ở nám da trung bình và mMASI giảm 50% ở nám da nặng. Tất cả đều hoàn thành theo dõi 3 tháng sau khi kết thúc điều trị đều không thấy tái phát.
Kết luận: Liệu pháp PRP có thể là một lựa chọn an toàn, hiệu quả và mới trong hệ thống điều trị nám da. Chúng tôi khuyến nghị sử dụng liệu pháp này như một liệu pháp độc lập cũng như liệu pháp bổ trợ cho các trường hợp nám da từ trung bình đến nặng.
Hiệu quả và tính an toàn của huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị nám da: Một đánh giá có hệ thống[2]
Một tìm kiếm toàn diện đã được thực hiện vào tháng 1 năm 2024 trên PubMed( là một cơ sở dữ liệu chứa các tài liệu tham khảo và tóm tắt về y sinh học và khoa học sự sống, được phát triển bởi Trung tâm Thông tin Công nghệ Sinh học Quốc gia (NCBI) thuộc Thư viện Y khoa Quốc gia Hoa Kỳ (NLM)), tập trung vào các nghiên cứu điều tra hiệu quả và độ an toàn của PRP trong điều trị nám da. Tiêu chí đưa vào là các thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu có đối chứng xem xét vai trò của PRP trong điều trị nám da, trong khi các tiêu chí loại trừ bao gồm các bài đánh giá, bài báo không phải tiếng Anh và các nghiên cứu trên 10 năm, cùng các tiêu chí khác. Tám nghiên cứu đã được đưa vào, phần lớn nhắm vào đối tượng tham gia là nữ giới. Nghiên cứu cho thấy kết quả tích cực nhất quán, cho dù PRP được sử dụng đơn lẻ hay phối hợp với các phương pháp điều trị như hydroquinone và axit tranexamic.
So sánh tiêm vi điểm PRP với Tiêm acid tranexamic trong điều trị nám
So sánh hiệu quả của huyết tương giàu (PRP) với axit tranexamic (4mg/mL) trong điều trị nám da[3]
Phương pháp nghiên cứu: Các trường hợp nám da ở cả nam và nữ, độ tuổi từ 20-40, được đưa vào nghiên cứu. Nghiên cứu này có tổng cộng 64 trường hợp, chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm 32 người. Các trường hợp ở nhóm A được điều trị bằng 1 ml huyết tương giàu tiểu cầu trong da (PRP) và các trường hợp ở nhóm B được tiêm axit tranexamic trong da với liều 4 mg/ml. Liệu trình được thực hiện cách mỗi 4 tuần và trong tổng thời gian 12 tuần; và kết quả cuối cùng được thấy vào tuần thứ 24. Tại mỗi lần khám, các trường hợp được ghi nhận điểm MASI trung bình.
Kết quả: Điểm MASI trung bình:
Lúc ban đầu lần lượt 2 nhóm A và B là 29,84 ± 5,14 so với 29,56 ± 4,39, p=0,21.
Ở tuần thứ 12: MASI trung bình lần lượt là 12,81 ± 1,78 so với 18,38 ± 3,50, p = 00001
+ Ở tuần thứ 24 MASI trung bình lần lượt là 8,72 ± 3,40 so với 14,97 ± 4,33, p = 0,02.
Kết luận: PRP nội bì tốt hơn đáng kể so với axit tranexamic nội bì trong việc kiểm soát nám da.
Sự kết hợp của PRP với các phương pháp điều trị khác trong điều trị nám da
Vai trò của liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu như một chất bổ trợ trong điều trị nám da[4]
Phương pháp nghiên cứu: Ba mươi bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để tiêm vi điểm PRP một bên và tiêm dung dịch muối sinh lý bên còn lại, tổng cộng 3 buổi. Bệnh nhân được khuyến cáo đồng thời thoa kem hydroquinone (HQ) 4% lên cả hai bên mặt. Hiệu quả được đánh giá bằng thang điểm Chỉ số Mức độ Nám (MASI)
Kết quả: Phần lớn đối tượng (53,3%) trong nhóm PRP + HQ và 76,7% trong nhóm HQ có điểm MASI cải thiện từ 25% đến 50%. Tuy nhiên, 40% trong nhóm PRP + HQ và chỉ 3,3% trong nhóm HQ có điểm MASI cải thiện từ 51% đến 75%. Sự khác biệt về tỷ lệ phần trăm cải thiện này có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ đối tượng báo cáo đáp ứng tốt ở nhóm HQ + PRP (53,3%) cao hơn so với nhóm HQ (27%).
Kết luận: Tiêm vi điểm PRP kết hợp với HQ tại chỗ có hiệu quả tốt hơn so với chỉ chỉ dùng HQ tại chỗ.
Hiệu quả của liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị nám da bằng kỹ thuật vi tiêm và vi kim[5]
Phương pháp nghiên cứu: Mỗi bệnh nhân trải qua tổng cộng ba buổi điều trị, được lên lịch mỗi tháng một lần trong thời gian 3 tháng. Bệnh nhân không sử dụng bất kỳ liệu pháp bôi ngoài da nào giữa các buổi điều trị. Những người tham gia được chia thành hai nhóm. PRP được bôi tại chỗ sau khi bệnh nhân được lăn kim với độ sâu kim 1,5 mm ở bên trái khuôn mặt. Quy trình này sử dụng bút lăn kim với hộp chứa 24 kim. PRP được tiêm vi điểm vào bên phải khuôn mặt với độ sâu kim 1,5 mm. Ảnh chụp được chụp trước khi điều trị, và Chỉ số Diện tích và Mức độ Nám da (MASI) được sử dụng để đánh giá theo dõi hàng tháng.
Kết quả: Có sự khác biệt đáng kể ( p < 0,001) về sự thay đổi trung bình điểm MASI giữa phương pháp vi tiêm và vi kim.
Cải thiện trên 50%: 18,33% bệnh nhân trong nhóm vi tiêm và 73,33% bệnh nhân trong nhóm vi kim.
Cải thiện trên 75%: 46,67% ở nhóm vi kim và 5% ở nhóm vi tiêm. Không có tác dụng phụ đáng kể nào được ghi nhận.
Kết luận
Liệu pháp PRP kết hợp vi kim vượt trội hơn phương pháp tiêm vi kim trong điều trị nám da; những bệnh nhân điều trị bằng vi kim cho thấy sự cải thiện rõ rệt hơn.
Nên sử dụng PRP đã hoạt hóa hay không cần hoạt hóa trong điều trị nám?
So sánh hiệu quả của huyết tương giàu tiểu cầu có và không có hoạt hóa quang trong điều trị nám da: Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi[6]
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bao gồm 38 bệnh nhân nữ được chẩn đoán mắc nám da từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 5 năm 2023. Theo kết quả khám bằng đèn Wood, 21 (55,3%) bệnh nhân bị nám biểu bì, năm (13,2%) bị nám trung bì và 12 (31,6%) bị nám hỗn hợp. Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm sử dụng PRP đã hoạt hóa(P-PRP) và PRP chưa hoạt hóa(C-PRP). Ba buổi điều trị được thực hiện cho bệnh nhân, mỗi buổi cách nhau 2 tuần. Điểm số của Chỉ số Diện tích và Mức độ Nám da (MASI) được so sánh trước và 2 tuần sau điều trị.
Kết quả: Điểm MASI trước điều trị trung bình là 14,5 giảm xuống còn 9 sau điều trị. Không có sự khác biệt đáng kể nào được quan sát thấy giữa các nhóm điều trị về điểm MASI trước hoặc sau điều trị. Không có sự khác biệt đáng kể nào được tìm thấy trong đáp ứng điều trị giữa ba loại nám da (biểu bì, hạ bì và hỗn hợp). Nhưng số bệnh nhân có sự cải thiện từ 25%–50% điểm MASI sau khi điều trị bằng P-PRP cao hơn 1,7 lần so với nhóm C-PRP.
Kết luận: PRP là phương pháp điều trị nám da hiệu quả và an toàn. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá tác dụng của việc sử dụng PRP đã hoạt hóa.
Kết luận
PRP là một phương thức hiệu quả cho các vấn đề về sắc tố, đặc biệt là ở bệnh nhân da tối màu do giảm được nguy cơ tăng sắc tố sau điều trị. Liệu pháp PRP có thể là một lựa chọn an toàn, hiệu quả và cần được ứng dụng nhiều hơn trong hệ thống điều trị nám da. Việc sử dụng PRP thể hiện nhiều ưu việt hơn những hoạt chất khác như acid tranexamic trong liệu pháp tiêm trong da điều trị nám. Kết hợp PRP với các phương pháp truyền thống khác làm tăng hiệu quả điều trị, ví dụ kết hợp PRP với HQ cho hiệu quả tốt hơn và giảm tác dụng bất lợi của HQ. Việc sử dụng PRP hoạt hóa và chưa hoạt hóa trong điều trị chưa thấy khác biệt nhiều về hiệu quả. Sử dụng PRP giàu bạch cầu hay nghèo bạch cầu hiệu quả hơn trong điều trị nám cũng chưa rõ ràng. Cần thêm nhiều nghiên cứu hơn về những yếu tố này để tối ưu hơn nữa phương pháp điều trị nám với PRP.
(tài liệu tham khảo trong bài viết ở dưới phần bình luận)
Bác Sĩ Thành