BS PHẠM MINH TRIẾT

BS PHẠM MINH TRIẾT Pursuit of Happiness and Excellence Bs Phạm Minh Triết là Trưởng Khoa Tâm Lý – Bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2018.

Mục tiêu nghề nghiệp là hướng đến cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần toàn diện và phù hợp cho trẻ em Việt Nam dựa trên những bằng chứng khoa học. Bs Triết tốt nghiệp chương trình Bác sĩ Y Khoa tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 1997. Năm 2010, Bs Minh Triết học xong chương trình Thạc sỹ Y tế Công (Master of Public Health) tại Viện Nhiệt Đới Hoàng Gia Amsterdam tại Hà Lan (Royal Tropi

cal Institute – Amsterdam). Năm 2014, Bs Minh Triết hoàn thành chương trình Thạc sỹ Tâm Lý Lâm Sàng do Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch kết hợp với Trường Tâm Lý Thực Hành – Pháp (Ecole de Psychologues Praticiens). Tháng 7/2024, Bs Phạm Minh Triết tốt nghiệp chương trình Tiến Sỹ Tâm Lý tại Trường Nghiên cứu Tâm lý thuộc Đại Học Quốc Gia Australia (Research School of Psychology – The Australian National University). Một số thông tin liên quan:

https://vnexpress.net/tac-gia/pham-minh-triet-1208.html

https://nld.com.vn/suc-khoe/vi-sao-tre-so-di-hoc-20170718210059553.htm

https://nld.com.vn/suc-khoe/ca-biet-khong-phai-la-hu-hong-20170702213100495.htm

https://nld.com.vn/suc-khoe/tre-hieu-dong-hay-tang-dong-20171125212301614.htm

https://nld.com.vn/suc-khoe/giai-ma-hien-tuong-tre-hoc-kho-2015122421000774.htm

https://nld.com.vn/suc-khoe/nghien-an-toc-la-roi-loan-tam-than-201703142217362.htm

https://tuoitre.vn/con-bi-stress-cha-me-nao-co-hay-1106944.htm

https://tuoitre.vn/may-tinh-bang-thay-sgk-chua-luong-het-tieu-cuc-636973.htm

https://congnghe.tuoitre.vn/bao-mau-cong-nghe-so-564447.htm

https://thanhnien.vn/tre-bi-xam-hai-tinh-duc-chiu-am-anh-tam-ly-nang-ne-lau-dai-post838985.html

https://thanhnien.vn/bac-si-bv-nhi-dong-1-noi-gi-ve-mot-truong-hop-do-mo-hoi-mau-post784724.html

https://thanhnien.vn/giup-tre-bi-bao-hanh-vuot-noi-dau-ky-1-nhung-am-anh-con-mai-post386344.html

https://thanhnien.vn/cha-me-phat-hoang-thay-con-thu-dam-moi-biet-con-som-day-thi-post580782.html..

30/04/2026

Sửa lại một góc nhà để có chổ gia đình cùng chill

TRẢ LỜI NHANH HAY CHẬM?[Nhân đọc một bài trên VnExpress (link ở phần bình luận), bài này tuy nói về lĩnh vực hành chính ...
29/04/2026

TRẢ LỜI NHANH HAY CHẬM?

[Nhân đọc một bài trên VnExpress (link ở phần bình luận), bài này tuy nói về lĩnh vực hành chính công nhưng có thể áp dụng cho lĩnh vực tôi đang làm việc]

… “Bác sĩ ơi, con tôi bị …. Vậy là bị gì?”, “Bác ơi, con em có tình trạng này… vậy làm sao để hết?”…
Tôi thường bị “khó nghĩ” khi gặp những câu hỏi tương tự như vậy. Nếu không trả lời thì cũng kỳ vì làm nghề y thì phải cung cấp thông tin để nâng cao nhận thức cho cộng đồng. Nếu trả lời thì câu trả lời chắc chắn là không đáp ứng được mong đợi của người hỏi. Vì không đủ thông tin để trả lời những câu hỏi kiểu như vậy.

Không dám nhận là chuyên gia nhưng với 15 năm học, làm việc và nghiên cứu sâu trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần ở trẻ em về cả y khoa và tâm lý lâm sàng, tôi nghĩ rắng bản thân cũng đủ kiến thức và kinh nghiệm để trả lời thỏa đáng những câu hỏi trên với điều kiện là có đầy đủ thông tin.

Xin trích một đoạn trong bài:

“… Không có một công thức hoàn hảo để nhận diện chuyên gia. Nhưng trong bối cảnh này, có thể bắt đầu từ một số câu hỏi tối thiểu.

Thứ nhất, họ có đặt câu hỏi trước khi trả lời không? Người hời hợt thường trả lời ngay, người có năng lực sẽ làm rõ vấn đề trước.

Thứ hai, họ có thừa nhận giới hạn không? Những câu trả lời "chắc chắn tuyệt đối" thường đáng nghi ngại; người dám nói "không chắc" thường là người hiểu sâu hơn.

Thứ ba, họ có nhìn thấy các đánh đổi không? Mọi quyết định đều có lợi ích và chi phí; nếu mọi thứ đều "win-win", rất có thể vấn đề đã bị đơn giản hóa.

Thứ tư, họ có gắn với hệ quả thực tế không? Chuyên gia không chỉ nói "nên làm gì", mà còn hiểu "sẽ xảy ra điều gì nếu làm".

Thứ năm, họ có thay đổi quan điểm khi có dữ liệu mới không? Chuyên gia thực sự cập nhật thông tin; "chuyên gia hình ảnh" thường cố giữ lập trường để bảo vệ uy tín.

Cuối cùng, họ có "dấu vết chuyên môn" hay không? Một chuyên gia thực sự thường để lại dấu vết trong lĩnh vực của mình - đó có thể là công bố được giới chuyên môn ghi nhận, hoặc những sản phẩm, mô hình, quyết định có giá trị sử dụng thực tế. Quan trọng hơn, những dấu vết này phải có thể kiểm chứng và được cộng đồng liên quan thừa nhận. Không có dấu vết, rất khó để là chuyên gia; nhưng có dấu vết cũng chưa đủ, nếu không được kiểm chứng …”

Bài này còn có nhiều ý khác cũng khá hay, như:
“…Người ta có thể dễ dàng nhìn thấy bằng cấp, số năm kinh nghiệm hay sự hiện diện truyền thông. Trong khi đó, yếu tố cốt lõi - khả năng nhận diện vấn đề và đưa ra nhận định - lại khó đánh giá hơn nhiều. Vấn đề càng trở nên phức tạp khi marketing được dùng thay cho năng lực. Những người nói hay thường xuất hiện nhiều và vì thế dễ được tin. Ngược lại, những người làm tốt nhưng ít xuất hiện lại dễ bị bỏ qua. Thị trường vì thế có xu hướng "thưởng" cho hình ảnh chuyên gia thay vì năng lực thực chất.

Điều nguy hiểm không nằm ở việc thiếu chuyên gia, mà ở việc sử dụng sai chuyên gia. Hệ quả không chỉ là lãng phí chi phí tư vấn, mà còn là sai hướng đi, lãng phí cơ hội, hoặc đưa ra những quyết định "có vẻ hợp lý" nhưng thực chất lại sai lầm..”

Từ góc nhìn này, việc tìm một “câu trả lời nhanh” có thể mang lại cảm giác yên tâm tạm thời, nhưng chưa chắc giúp giải quyết vấn đề. Ngược lại, việc chấp nhận đi qua một quá trình đánh giá đầy đủ – với nhiều câu hỏi, nhiều bước kiểm tra, và cả những điều chưa chắc chắn – mới là cách tiếp cận thực tế hơn.

Ở phía người làm chuyên môn, trách nhiệm không chỉ là trả lời, mà là đặt câu hỏi đúng. Ở phía phụ huynh, có lẽ cũng cần chấp nhận rằng một câu trả lời đáng tin thường không phải là câu trả lời nhanh nhất.

. , .

RỐI LOẠN LO ÂU VÀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM(Bài đăng cách đây 6 năm, đăng lại vì có phụ huynh hỏi)Rối loạn lo âu và rối loạn trầ...
29/04/2026

RỐI LOẠN LO ÂU VÀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM

(Bài đăng cách đây 6 năm, đăng lại vì có phụ huynh hỏi)

Rối loạn lo âu và rối loạn trầm cảm là hai dạng rối loạn được xếp trong nhóm rối loạn khí sắc. Rối loạn lo âu là một nhóm gồm những rối loạn liên quan đến sự sợ hãi quá mức dẫn đến những phản ứng bất thường và làm suy giảm những chức năng trong sinh hoạt, học tập và làm việc. Trong khi đó, trầm cảm là rối loạn liên quan đến sự trầm buồn quá mức dẫn đến sự suy giảm về chức năng trong sinh hoạt và nhận thức cùng với những biểu hiện của triệu chứng liên quan đến cơ thể do tâm lý (1,2).

Tại Mỹ, nghiên cứu cho thấy, cứ 100 trẻ em thì có khoảng 7 em mắc rối loạn lo âu và 3 em mắc trầm cảm (3). Tại Việt Nam, trong 100 trẻ em từ 6 đến 16 tuổi có khoảng 7 trẻ mắc rối loạn lo âu và 6 trẻ bị trầm cảm (4).

M*. là một học sinh nữ lớp 10 được gia đình đưa đến khám vì tự cắt tay mình để tự tử. Từng là một học sinh xuất sắc trong những năm học cấp 2, khi vào lớp 10, sau một lần nhận được điểm 8 cho bài kiếm tra 15 phút, M. cảm thấy đó là một thất bại không thể chấp nhận được. M. bắt đầu có cảm giác sợ tiếp tục bị thất bại trong những lần kiếm tra tiếp theo, cảm giác sợ hãi này tiếp tục và tăng lên mỗi khi gần đến thời điểm có kiếm tra. Vì bị cảm giác lo sợ choáng ngợp, nên M. không thể tập trung làm bài kiểm tra được, kết quả là điểm của những bài kiểm tra này ngày càng thấp. Từ một học sinh xuất sắc luôn đi đầu trong những hoạt động ngoại khóa của trường, M. dần dần học kém đi và thu mình lại. Cho đến một ngày, vì không thể chịu đựng được cảm giác “bất tài”, “vô dụng”, M. tự cắt tay để kết thúc mọi chuyện.

Trường hợp M. là một trong những trường hợp diễn tiến thường gặp, khởi đầu từ một sự kiện tưởng chừng như bình thường (được điểm 8 trong bài kiểm tra), dẫn đến rối loạn lo âu (sợ thất bại trong những lần kiểm tra sau). Tình trạng lo âu kéo dài không được xử trí hợp lý dẫn đến trầm cảm và cuối cùng là hành vi tự tử.

Lo lắng là một biểu hiện bình thường ở con người. Nhờ sự lo lắng, con người có thể chuẩn bị tốt cho những sự kiện sắp xảy ra. Ví dụ: khi trẻ lo lắng về bài kiểm tra vào ngày mai, trẻ sẽ cố gắng ôn bài để chuẩn bị làm bài kiểm tra được tốt. Nhưng ở một số người, sự lo lắng phát triển quá mức tràn ngập tâm trí của họ. Vì vậy, những người này không thể suy nghĩ hay chuẩn bị được gì cho sự kiện chuẩn bị xảy ra. Lúc này, sự lo lắng đã trở thành rối loạn lo âu (5).

Những biểu hiện của rối loạn lo âu rất đa dạng và ở trẻ em, những biểu hiện này đôi khi không được nhận ra. Trẻ có thể có những than phiền như đau bụng, nhức đầu và muốn ói. Trẻ cũng có thể có biểu hiện cáu gắt, dễ bực bội, chống đối hoặc tức giận, đặc biệt là khi trẻ phải đối diện với hoàn cảnh hoặc yếu tố gây sợ hãi. Trẻ nhỏ độ tuổi mầm non thường không nhận biết và không diễn tả được bản thân đang bị sợ hãi hoặc lo lắng quá mức nên việc phát hiện ra tình trạng rối loạn lo âu ở trẻ càng khó khăn (1). Có nhiều dạng rối loạn lo âu và việc phân biệt các dạng này chủ yếu dựa vào yếu tố gây ra sự sợ hãi, lo lắng (1,2).

Rối loạn trầm cảm cũng có nhiều phân loại, trong đó 2 nhóm trầm cảm thường gặp ở trẻ em là Rối loạn Trầm Cảm Chính và Rối loạn Trầm Cảm mãn tính. Biểu hiện chung của rối loạn trầm cảm là cảm giác buồn bã, trống rỗng hoặc tính tình cáu gắt, rất dễ bực bội cùng với sự suy giảm rõ những chức năng trong sinh hoạt, học tập và công việc. Ở trẻ em, biểu hiện cáu gắt, dễ bực bội thường gặp hơn là biểu hiện buồn bã (1,2,5).

Trong Rối loạn Trầm Cảm Chính, trẻ thường có biểu hiện buồn bã (hoặc cáu gắt, bực bội) và/hoặc biểu hiện mất hết hứng thú đối với những sở thích trước đây kéo dài ít nhất 2 tuần. Bên cạnh đó trẻ cũng có thể có tăng cân hoặc giảm cân rõ rệt, ngủ quá nhiều hoặc mất ngủ, chậm chạp, mệt mỏi, cảm thấy bản thân vô dụng hoặc có tội, khó tập trung, tuyệt vọng và có ý định hoặc hành vi tự tử. Trẻ mắc Trầm Cảm mãn tính cũng có thể có biểu hiện tương tự nhưng biểu hiện buồn bã kéo dài ít nhất 1 năm. Trẻ trầm cảm thường thu mình lại, thích ở một mình, học hành sa sút (1,2).

Việc can thiệp và điều trị những rối loạn lo âu hoặc trầm cảm thay đổi tùy theo độ tuổi của trẻ và mức độ của những biểu hiện. Ở độ tuổi nhỏ hơn 6, điều trị chủ yếu dựa vào can thiệp không dùng thuốc, trong đó phụ huynh và người chăm sóc trực tiếp đóng vai trò chủ lực. Với trẻ lớn hơn, việc điều trị thường là sự kết hợp giữa thuốc và can thiệp tâm lý. Một số trẻ có triệu chứng nặng có thể phải sử dụng thuốc sớm. Ngược lại, có những trẻ lớn có biểu hiện không ảnh hưởng nhiều, đôi khi chỉ cần can thiệp không thuốc. Nếu người mắc rối loạn không học được những kỹ năng do can thiệp không thuốc cung cấp, việc điều trị thuốc có thể kéo dài, thậm chí suốt đời. Ở trẻ độ tuổi teen mắc trầm cảm, cần lưu ý đến nguy cơ tự tử, đặc biệt cần giám sát kỹ những trường hợp đã từng có hành vi tự tử trước đó (1,2).

Can thiệp và điều trị rối loạn lo âu hoặc trầm cảm cần nhiều thời gian và vì vậy sự hợp tác của bản thân trẻ, người chăm sóc và sự kiên trì. Điều trị tâm lý tập trung vào việc cung cấp, huấn luyện cho bản thân trẻ và người chăm sóc những kỹ năng để giúp trẻ tự điều chỉnh được những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi không phù hợp (5). Việc điều trị tâm lý chỉ thành công khi bản thân trẻ và những người xung quanh sử dụng được những kỹ năng đã được huấn luyện như những thói quen hàng ngày (giống như việc vệ sinh cá nhân, ăn uống). Không giống như việc điều trị thuốc trên những bệnh thông thường (ví dụ như viêm họng, viêm phổi hay tiêu chảy), phần lớn hiệu quả điều trị thuốc liên quan đến rối loạn lo âu, trầm cảm chỉ có thể biết được sau 2 tháng dùng thuốc liên tục (1). Việc điều trị thuốc thường dựa vào mục tiêu cân bằng giữa hiệu quả điều trị và tác dụng phụ và vì vậy, việc điều chỉnh liều thuốc và thay đổi thuốc điều trị trong giai đoạn đầu rất cần sự hợp tác và kiên trì của bản thân trẻ và người chăm sóc. Khi đã điều chỉnh được liều lượng thuốc phù hợp nhất với trẻ, thời gian dùng thuốc thường kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm (1,2).

(* Tên do người viết đặt để mô tả một trong nhiều trường hợp có thật)

, , , , , .

BS. Phạm Minh Triết

Link trên trang web ở comment

Tài liệu tham khảo
1. American Academy of Pediatrics. AAP Developmental and Behavioral Pediatrics. 2nd ed. 2018.
2. Rey JM, Martin A, editors. M Rey’s IACAPAP e-Textbook of Child and Adolescent Mental Health. Geneva: International Association for Child and Adolescent Psychiatry and Allied Professions; 2019.
3. Ghandour RM, Sherman LJ, Vladutiu CJ, Ali MM, Lynch SE, Bitsko RH, et al. Prevalence and Treatment of Depression, Anxiety, and Conduct Problems in US Children. The Journal of Pediatrics. 2019 Mar 1;206:256-267.e3.
4. Weiss B, Dang M, Trung L, Nguyen MC, Thuy NTH, Pollack A. A Nationally-Representative Epidemiological and Risk Factor Assessment of Child Mental Health in Vietnam. Int Perspect Psychol. 2014;3(3):139–53.
5. David H. Barlow, V. Mark Durand, Stefan G. Hofmann, editors. Abnormal Psychology: An Integrative Approach. Eighth. Cengage Learning, Inc.; 2018.

HIỂU VÀ QUẢN LÝ HÀNH VI Ở TRẺ MẮC RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ DÀNH CHO PHỤ HUYNHTrong can thiệp ban đầu cho trẻ mắc rối loạn phổ ...
28/04/2026

HIỂU VÀ QUẢN LÝ HÀNH VI Ở TRẺ MẮC RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ DÀNH CHO PHỤ HUYNH

Trong can thiệp ban đầu cho trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ, trẻ thường cần được xây dựng các nền tảng như chú ý, bắt chước, ngồi học, giao tiếp chức năng và thói quen sinh hoạt nhất quán. Đây là những kỹ năng giúp trẻ bắt đầu học và tham gia tốt hơn vào các hoạt động can thiệp.

Tuy nhiên, ở nhiều trẻ, quá trình học bị gián đoạn bởi các hành vi như né tránh, chống đối, la hét, bùng nổ cảm xúc hoặc không hợp tác. Khi đó, nếu chỉ la mắng, dỗ dành, nhượng bộ hoặc xử lý theo từng tình huống, hành vi có thể lặp lại và làm phụ huynh cũng như giáo viên mất thêm nhiều thời gian và công sức, thậm chí cảm thấy bất lực.

Lớp “Hiểu và quản lý hành vi ở trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ” giúp phụ huynh hiểu hành vi của trẻ đang phục vụ mục đích gì, vì sao hành vi được duy trì, và cha mẹ có thể phản ứng như thế nào để hỗ trợ quá trình can thiệp tốt hơn.

Lớp dành cho phụ huynh có trẻ đã được can thiệp ban đầu nhưng đang có hành vi cản trở sinh hoạt, học tập. Học online qua Google Meet, từ 8:00 – 11:30, Chủ nhật ngày 10/5/2026. Xem thông tin chi tiết tại link ở phần bình luận hoặc quét hình mã QR.

, , ,

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG ĐỦ LÂUCứ mỗi đợt tôi về Việt Nam, Mẹ con đều chở con đến để con nói chuyện với tôi ít nhất một lần. Đợt ...
26/04/2026

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG ĐỦ LÂU

Cứ mỗi đợt tôi về Việt Nam, Mẹ con đều chở con đến để con nói chuyện với tôi ít nhất một lần. Đợt rồi cũng vậy, con gặp tôi vào ngày cuối cùng trước khi tôi về lại Úc. Tôi đã đồng hành cùng gia đình con cũng hơn một năm rưỡi rồi...

Những ngày đầu, gần như tuần nào chúng tôi cũng gặp nhau. Các buổi nói chuyện là một mớ rối bòng b**g của nhiều vấn đề đan xen: rối loạn thách thức chống đối, rối loạn cư xử, rối loạn lo âu và rối loạn tăng động giảm chú ý. Không ít lần, chỉ cần kể lại một câu chuyện ở trường, con đã đập tay xuống bàn, gào khóc vì không kiểm soát được cơn tức giận. Khi đó, cảm giác như mọi thứ đều quá nhiều — quá nhiều vấn đề, quá nhiều cảm xúc, và không rõ phải bắt đầu từ đâu.

Quá trình điều trị bắt đầu bằng sự kết hợp giữa thuốc, tâm lý trị liệu và hướng dẫn phụ huynh các kỹ thuật quản lý hành vi. Con có tiến bộ, rõ ràng. Nhưng từng đó là chưa đủ. Với những "hành vi xấu" đã xảy ra trước đó, con được “khuyên” nên chuyển sang một trường khác.

Đó là một quyết định không dễ dàng. Với một nền tảng lo âu sẵn có, việc bước vào một môi trường hoàn toàn mới là một thử thách lớn. Có sự động viên của giáo viên, sự kiên trì của mẹ, và nhiều lần trao đổi giữa tôi và con để chuẩn bị cho mọi tình huống. Trước ngày phải quyết định, con nhắn tin hỏi tôi. Rồi con chọn bước đi đó — chọn đối diện với khó khăn, thay vì né tránh.

Những ngày sau đó không hề dễ. Con vẫn gặp nhiều va chạm, nhiều thất bại nhỏ. Nhưng từng chút một, con học cách hiểu tình huống, hiểu người khác, và quan trọng hơn là hiểu chính mình.

Mẹ của con, theo cảm nhận của tôi, là một người rất thành công trong công việc, nhưng cũng là người rất nghiêm túc và kiên trì trong việc đồng hành với con. Ngay từ đầu, chị chấp nhận rằng con có vấn đề. Sau đó là cố gắng hiểu vì sao con hành xử như vậy, và cần làm gì — cả về thuốc lẫn không dùng thuốc. Chúng tôi cùng xây dựng kế hoạch, rồi điều chỉnh liên tục theo từng giai đoạn. Dần dần, tần suất gặp giảm đi: từ mỗi tuần, sang mỗi tháng, rồi thưa hơn.

Lần gần nhất khi gặp lại con, tôi gần như thấy một người khác.

Không còn những cái đập tay xuống bàn. Không còn tiếng gào uất ức. Thay vào đó là những câu chuyện rôm rả và nhiều nụ cười. Nếu như trước kia, một lời trêu chọc nhỏ cũng bị con hiểu là sự gây hấn, và phản ứng lại bằng hành vi mà nhà trường từng ghi nhận là “tác động vật lý”, thì bây giờ con đã phân biệt được đâu là đùa vui, đâu là giới hạn không thể vượt qua. Và quan trọng hơn, con kiểm soát được phản ứng của mình.

Thậm chí, con còn trở thành người lắng nghe và khuyên nhủ một bạn cùng lớp có khó khăn tương tự.

Cuối buổi, con khoe với tôi một video do nơi con học ngoại khóa thực hiện — con được chọn để nói về chính mình. Trong video, con nói một cách tự tin, rõ ràng. Con kể về hành trình của mình, và gửi lời cảm ơn đến những người đã giúp con trên đường đi. Không có tôi ở trong đó …

Tôi nhìn… và tự nhiên thấy mắt mình nhòe đi, không phải vì con đã không nhắc đến tôi (dĩ nhiên rồi) mà là vì cuối cùng con cũng đã và đang trở thành phiên bản tốt hơn của mình. Cái con bé đã gọi Zalo trong lúc tôi đang lái xe, phải nhờ vợ cầm điện thoại mở loa ngoài để nghe con khóc, giờ đã trưởng thành và chính chắn.

(xem bài liên quan: www.facebook.com/1358281439085233 ).

Trong nhiều trường hợp tôi từng gặp, sự thay đổi của trẻ hiếm khi đến từ một yếu tố duy nhất. Nhưng gần như luôn có một điểm chung: có một người lớn đủ kiên nhẫn để ở lại. Với trường hợp này, đó là người Mẹ (hình như luôn là người Mẹ). Chị đã không chỉ nhìn vào vấn đề, mà nhìn thấy và luôn ghi nhận cả những tiến bộ — dù nhỏ và chậm của con. Có những lúc mệt mỏi, nhưng chị vẫn kiên trì. Và chính sự kiên trì tạo ra thay đổi.

Hy vọng là con sẽ tiếp tục ổn dần vì thuốc đã bỏ được một loại, điều trị tâm lý đã không còn quá cần thiết mà chỉ là vài ba tháng gặp một lần để theo dõi hỗ trợ khi cần. Con vẫn chỉ đang ở giai đoạn vị thành niên sớm, giai đoạn mà nhiều bất ổn vẫn có thể xảy ra kéo dài đến vài năm nữa, thậm chí có thể đến tận hai mươi lăm tuổi. Vẫn luôn mong cho những lần gặp con tiếp theo chỉ toàn là những câu chuyện vui, những tiếng cười rộn rã như ngày hôm qua.

, , , , ,

Hình minh họa: vài đoạn tin nhắn với con.

MẠNG XÃ HỘI: KHI MÔI TRƯỜNG THAY ĐỔI NÃO CŨNG THAY ĐỔI THEO(Bài viết riêng cho Tạp chí Kinh Tế Sài Gòn, đăng ngày 23/4/2...
24/04/2026

MẠNG XÃ HỘI: KHI MÔI TRƯỜNG THAY ĐỔI NÃO CŨNG THAY ĐỔI THEO

(Bài viết riêng cho Tạp chí Kinh Tế Sài Gòn, đăng ngày 23/4/2026)

Trong vài năm gần đây, việc trẻ em và thanh thiếu niên sử dụng điện thoại, mạng xã hội và internet đã trở thành một phần quen thuộc của đời sống. Trẻ có thể ngồi hàng giờ trước màn hình, chuyển liên tục giữa các video, ứng dụng mà gần như không thấy mệt. Những nghiên cứu gần đây giúp giải thích phần nào vấn đề hành vi này.

Các nghiên cứu sử dụng chụp cộng hưởng từ chức năng (functional magnetic resonance imaging – fMRI, là kỹ thuật ghi nhận hoạt động của não) và các nghiên cứu theo dõi dài hạn cho thấy việc sử dụng mạng xã hội nhiều có liên quan đến những thay đổi thật sự trong cách não bộ phát triển. Không phải do não bị “rối loạn”, mà là não đang thay đổi để thích nghi với môi trường kích thích nhanh, phần thưởng tức thì và lặp lại liên tục của mạng xã hội.

1. Não bộ vị thành niên: Khi hệ thống kiểm soát chưa theo kịp cảm xúc
Ở tuổi vị thành niên, não bộ chưa phát triển đồng đều. Hệ thống cảm xúc và phần thưởng phát triển sớm, trong khi hệ thống kiểm soát hành vi (vỏ não trước trán – Prefrontal cortex) phát triển chậm hơn. Điều này khiến trẻ dễ bị thu hút bởi cảm giác “được thưởng” nhưng lại khó dừng lại đúng lúc.

Mạng xã hội tận dụng chính đặc điểm này để “gây nghiện”. Mỗi lượt thích, mỗi bình luận, mỗi video ngắn đều đóng vai trò như một phần thưởng nhỏ, đến nhanh và lặp lại. Khi tiếp xúc đủ nhiều, não bộ dần “học” rằng đây là nguồn phần thưởng dễ đạt được nhất, và từ đó ưu tiên quay lại với nó.

2. Sự thay đổi trong các phản ứng của não khi tiếp xúc mạng xã hội thường xuyên
Các nghiên cứu theo dõi dài hạn cho thấy khi trẻ sử dụng mạng xã hội thường xuyên, não bắt đầu thay đổi cách phản ứng. Dữ liệu fMRI ghi nhận rằng những trẻ kiểm tra mạng xã hội nhiều lần trong ngày có xu hướng tăng dần độ nhạy với phần thưởng xã hội như được chú ý hay được phản hồi [1]. Điều này tạo ra một vòng lặp: càng dùng thì càng nhạy, và càng nhạy thì càng khó dừng.

Song song đó, kết quả từ nghiên cứu phát triển não bộ vị thành niên (Adolescent Brain Cognitive Development Study – ABCD Study) cho thấy thời gian màn hình cao có liên quan đến khả năng tập trung kém hơn và khó kiểm soát hành vi hơn ở một số trẻ [2]. Đây chính là những biểu hiện mà phụ huynh thường thấy trong thực tế: trẻ dễ mất tập trung, nhanh chán, và khó quay lại các hoạt động cần nỗ lực như học tập.

3. Sự thay đổi trong cấu trúc giải phẫu của não khi tiếp xúc mạng xã hội thường xuyên
Không chỉ thay đổi về cách hoạt động, một số nghiên cứu còn ghi nhận sự khác biệt về cấu trúc não. Trẻ sử dụng màn hình nhiều có thể có thay đổi ở chất trắng (white matter – các “đường dẫn” kết nối các vùng não), cũng như ở các vùng vỏ não liên quan đến kiểm soát hành vi và cảm xúc [2][3]. Điều này cho thấy não đang điều chỉnh theo kiểu sử dụng lặp lại hàng ngày.

Ở mức độ rộng hơn, một nghiên cứu tổng quan cho thấy việc sử dụng internet quá mức có thể làm thay đổi cách các mạng trong não phối hợp với nhau, đặc biệt là mạng mặc định (Default Mode Network – DMN, liên quan đến suy nghĩ nội tâm) và mạng điều hành trung tâm (Central Executive Network – CEN, liên quan đến tập trung và kiểm soát hành vi). Khi sự phối hợp này kém linh hoạt, trẻ sẽ khó chuyển từ trạng thái “lướt tự do” sang trạng thái tập trung khi cần [4].

Những thay đổi này phản ánh một nguyên lý quan trọng của não bộ: tính dẻo thần kinh (neuroplasticity – khả năng thay đổi để thích nghi với trải nghiệm). Não không “bị hỏng”, mà đang tối ưu hóa theo môi trường mà nó tiếp xúc nhiều nhất.

4. Nếu môi trường gây ra thay đổi, thì môi trường cũng là giải pháp
Vì não thay đổi theo trải nghiệm, nên việc điều chỉnh môi trường sống có thể giúp não “học lại” theo hướng lành mạnh hơn. Điều này không có nghĩa là phải loại bỏ hoàn toàn công nghệ, mà là đưa việc sử dụng trở về mức hợp lý và cân bằng.

Về thời gian, nhiều khuyến nghị quốc tế gợi ý rằng trẻ dưới 12 tuổi nên giới hạn thời gian màn hình giải trí dưới khoảng 2 giờ mỗi ngày. Với trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên, con số này có thể linh hoạt hơn, nhưng vẫn cần có nguyên tắc rõ ràng: không để việc sử dụng kéo dài liên tục nhiều giờ, và cần có khoảng nghỉ xen kẽ. Một nguyên tắc thực tế là sau mỗi 30–45 phút sử dụng nên có một khoảng nghỉ ngắn, và tổng thời gian sử dụng ngoài học tập nên được kiểm soát.

Bên cạnh thời gian, chất lượng hoạt động ngoài màn hình quan trọng không kém. Trẻ cần có những trải nghiệm “đối lập” với môi trường mạng xã hội: vận động thể chất, chơi tự do, giao tiếp trực tiếp với bạn bè, và những hoạt động cần kiên nhẫn như đọc sách hoặc học kỹ năng. Đây chính là những yếu tố giúp não phát triển khả năng tập trung dài và kiểm soát hành vi.
Một điểm rất quan trọng là thời điểm sử dụng. Việc tiếp xúc với màn hình ngay trước giờ ngủ hoặc ngay trước khi học thường làm giảm chất lượng giấc ngủ và khả năng tập trung. Vì vậy, nên tạo thói quen “khoảng không màn hình” ít nhất 60–90 phút trước khi đi ngủ, và hạn chế sử dụng các nội dung kích thích nhanh trước giờ học.

Khi những thay đổi này được duy trì đều đặn, não bộ sẽ dần điều chỉnh lại. Trẻ có thể cải thiện khả năng tập trung, giảm bớt cảm giác “cần phải lướt”, và quay lại với những hoạt động đòi hỏi nỗ lực hơn.

5. Kết luận
Các bằng chứng hiện nay cho thấy một xu hướng rõ ràng: việc sử dụng mạng xã hội nhiều có liên quan đến những thay đổi trong não bộ, và những thay đổi này có thể ảnh hưởng đến chú ý, cảm xúc và hành vi của trẻ. Tuy nhiên, đây không phải là một quá trình không thể đảo ngược.
Điều quan trọng không phải là loại bỏ hoàn toàn công nghệ, mà là giúp trẻ phát triển trong một môi trường đủ cân bằng. Khi môi trường thay đổi, não cũng sẽ thay đổi theo. Và khi đó, màn hình chỉ còn là một phần trong cuộc sống, không phải là trung tâm chi phối mọi thứ.


TS. BS Phạm Minh Triết

Tài liệu tham khảo
1. Telzer, E. H., et al. (2023). Association of Habitual Checking Behaviors on Social Media With Functional Brain Development. JAMA Pediatrics, 177(3), 260–267.
2. Paulich, K. N., et al. (2019). Screen media activity and brain structure in youth: Evidence for diverse structural correlation networks from the ABCD study. NeuroImage, 196, 189–201.
3. Hutton, J. S., et al. (2020). Associations Between Screen-Based Media Use and Brain White Matter Integrity in Preschool-Aged Children. JAMA Pediatrics, 174(1), e193869.
4. Kuss, D. J., & Griffiths, M. D. (2017). Social networking sites and addiction: Ten lessons learned. International Journal of Environmental Research and Public Health, 14(6), 311.

CÓ “HẾT” HÔNG?Qua hơn 15 năm làm trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, với khoảng 95% thân chủ là trẻ em, lứa tuổi từ 6 thán...
23/04/2026

CÓ “HẾT” HÔNG?

Qua hơn 15 năm làm trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, với khoảng 95% thân chủ là trẻ em, lứa tuổi từ 6 tháng đến 20 tuổi, một trong những câu hỏi mà bất kỳ ông ba, bà mẹ nào đến khám cũng đều hỏi là: “Vậy con tôi có ‘hết’ hông?”. Và đó là một câu trả lời không dễ.

Khác với phần lớn những vấn đề nhi khoa (cổ điển) thường gặp như sốt, ho, thở nhanh, tiêu chảy…, các vấn đề về phát triển, hành vi và sức khỏe tâm thần ở trẻ em thường chỉ dừng ở mức điều trị được, thay vì chữa khỏi hoàn toàn (ngoại trừ một số rối loạn như lo âu, trầm cảm, nhưng ngay cả khi đó cũng cần rất nhiều nỗ lực và theo dõi nghiêm túc).

Tính tôi vốn nghiêm túc và thực tế trong lĩnh vực của mình. Tôi luôn cố gắng tìm hiểu những phương pháp can thiệp, điều trị mới nhất và có bằng chứng khoa học, với mong muốn có thể trả lời được câu hỏi “Có ‘hết’ hông?”. Một trong những câu chuyện có thật đã khiến tôi quyết định ngừng việc ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 để đi học tiếp là: có một ngày, một phụ huynh (có lẽ cũng cùng ngành y) mang đến một hướng dẫn điều trị từ textbook y khoa (tiếng Anh) của một rối loạn và đưa tôi xem, rồi hỏi: ngoài chuyện dùng thuốc thì hãy giúp tôi biết cụ thể cần làm gì (không dùng thuốc) cho tình trạng của con tôi?

Thật lòng mà nói, lúc đó tôi đã không biết phải trả lời như thế nào cho cụ thể. Hoặc nếu có, thì những gì tôi được dạy trước đó lại không trùng với những phương pháp được trình bày trong textbook đó. Và chính trải nghiệm đó khiến tôi quyết định nghỉ việc để sang Úc học tiếp.

Việc giảng dạy về tâm lý lâm sàng cũng không hề đơn giản. Ngành này vốn có nhiều trường phái. Dĩ nhiên, những trường phái còn tồn tại được đều có những ý nghĩa nhất định trong một bối cảnh nào đó của xã hội. Tôi có nhận được một vài đề nghị tham gia giảng dạy ở bậc đại học và sau đại học về tâm lý.

Một trong những câu hỏi đầu tiên tôi thường đặt ra khi trao đổi là: chương trình đó có tiếp cận các textbook gốc (tiếng Anh) hoặc những phác đồ của các tổ chức uy tín về tâm thần học và điều trị tâm lý hiện đại hay không. Nếu có, thì họ có đang dạy những phương pháp điều trị tâm lý được trình bày trong các tài liệu này hay không, để tôi quyết định có đồng hành hay không.

Theo tôi, nếu không tạo được những thế hệ chuyên viên tâm lý có khả năng sử dụng các phương pháp dựa trên chứng cớ khoa học, tương thích với cách làm việc của bác sĩ và các chuyên ngành liên quan, thì sự gắn kết giữa các nhóm chuyên môn này sẽ rất khó cải thiện. Và khi đó, người dân vẫn sẽ tiếp tục lúng túng trong việc biết nên tin vào đâu, trong khi thực tế việc điều trị các vấn đề này luôn cần sự phối hợp đa ngành.

Để minh họa cụ thể hơn, có thể nhìn từ những trải nghiệm thực tế. Có một trường phái ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ chuyên viên tâm lý tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong các textbook hoặc nghiên cứu mới bằng tiếng Anh liên quan đến điều trị tâm lý mà tôi từng tiếp cận, trường phái này hiện hiếm khi được đề cập như một phương pháp điều trị chính. Trong chương trình Tiến sĩ mà tôi theo học cũng không có nội dung này. Gần đây, khi tôi tham gia giảng dạy trong dự án của Đại học Y khoa Huế kết hợp với Đại học New South Wales (Australia), cách tiếp cận này cũng không nằm trong chương trình. Theo hiểu biết của tôi (có thể chưa đầy đủ), thì chương trình đào tạo tâm lý lâm sàng của Trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN (có hợp tác với Đại học Vanderbilt – Mỹ) cũng không dạy trường phái này như một phương pháp điều trị trọng tâm. Mặc dù vậy, hiện nay vẫn còn ít nhất một chương trình đào tạo sau đại học mà tôi biết có giảng dạy nội dung này ở mức đáng kể.

Tôi không phủ nhận những ý nghĩa nhất định đối với người sử dụng của những trường phái không còn được đề cập nhiều trong các tài liệu chuyên ngành tiếng Anh. Nhưng trong thực hành lâm sàng, điều mà tôi (và cả bệnh nhân, người thân của họ) luôn hướng đến vẫn là câu hỏi: “Có ‘hết’ hông?”. Và nếu một phương pháp không thể cho thấy tương đối rõ ràng rằng nó giúp được điều gì, cải thiện đến đâu, trong điều kiện nào, bằng những chứng cớ đủ khách quan và nghiêm túc, thì tôi sẽ không chọn sử dụng như một phương pháp điều trị nền tảng.

Vì điều mà phụ huynh cần không phải là một lời hứa mơ hồ, mà là một cách trả lời rõ ràng và minh bạch. Minh bạch ở đây là: con đang gặp khó khăn gì, mức độ ra sao, mục tiêu điều trị là gì, sau một thời gian can thiệp thì thay đổi cụ thể nằm ở đâu, và những thay đổi đó dựa trên dữ liệu nào. Khi các kết quả được theo dõi và trình bày bằng những chỉ số cụ thể, dựa trên các phương pháp đã được kiểm chứng, phụ huynh mới có thể hiểu, tin và cùng đồng hành trong quá trình điều trị. Và đó cũng là cách để câu hỏi “Có ‘hết’ hông?” được trả lời một cách nghiêm túc nhất.

NHỮNG LẦN “BÓ TAY”Có một lần đang khám thì lễ tân nhắn qua Zalo là có một phụ huynh tự đến và ngồi chờ để gặp. Thường th...
20/04/2026

NHỮNG LẦN “BÓ TAY”

Có một lần đang khám thì lễ tân nhắn qua Zalo là có một phụ huynh tự đến và ngồi chờ để gặp. Thường thì Phòng khám Tâm Lý Nhi Đồng chỉ nhận bệnh nhân có hẹn vì luôn phải sắp xếp đủ thời gian khoảng 45 đến 60 phút cho mỗi ca khám lần đầu. Và trường hợp này lễ tân gặp khó khăn vì phụ huynh kiên quyết gặp mà không chịu đặt hẹn.

Vậy là tranh thủ lúc nghỉ để ăn chiều, tôi gặp phụ huynh vài phút. Lý do khám là vì chị lén đọc tin nhắn của con và thấy con nhiều lần muốn t..u…..t….u. Tôi hỏi nhanh vài câu rồi quyết định … không nhận, khuyên chị nên cho con khám tại bệnh viện. Chị không bỏ cuộc, tiếp tục thuyết phục tôi gặp con ít nhất là một lần rồi tôi quyết sao chị cũng chịu.

Chuyện tiếp theo, cũng là một thách thức, là làm sao để con chịu đến. Dĩ nhiên là cũng có cách, chỉ cần bỏ chút thời gian để “lên kịch bản” cho khớp. Không phải để “lừa” con mà để làm con cảm thấy có trách nhiệm trong việc đến gặp tôi.

Buổi đầu diễn ra khá suông sẻ. Rồi buổi hai, buổi ba đều ổn. Con không còn nghĩ đến việc kia nữa và bắt đầu chăm học trở lại. Người mẹ biết được qua hỏi chuyện bạn, qua “lén” đọc tin nhắn (vụ này thì tôi không ủng hộ nhưng đành chấp nhận trong thời điểm nguy hiểm). Chị còn nói là con nhắn với bạn bè là “mỗi lần gặp bác sĩ Triết là một cuộc chiến cân não, nên phải suy nghĩ rất nhiều trước khi nói chuyện với ổng”. :D

Sau ba lần gặp liên tiếp thì con ổn nên không có kế hoạch gặp tiếp theo. Ngờ đâu, vài tuần sau thì chị nhắn…

… Con đang để ý đến một bạn gái và việc chưa được để ý lại làm con tiếp tục khó kiểm soát cảm xúc. Lần này thì tôi “bó tay” thiệt vì chuyện “tương tư” là sự phát triển bình thường ở trẻ nên gợi ý cho chị một số cách cũng như tìm người tham vấn phù hợp khi cần…

Gần đây nhất cũng là một trường hợp con đang điều trị ổn, bổng nhiên gia tăng hành vi chống đối làm phụ huynh lo lắng. Hỏi kỹ mới biết là anh chàng cũng để ý một bạn gái học cùng khối nhưng khác lớp. Mỗi lần ra chơi thì con đều sang bên đó để nhìn bạn. Vì chuyện này nên các học sinh ở lớp đó chọc ghẹo hoặc có hành động đuổi về, nên sinh chuyện.

Đến đây thì tôi biết mình “bó tay” rồi. Trước giờ chỉ “chăm chăm” tìm đọc cách can thiệp điều trị những ca “khó” chứ chưa bao giờ nghĩ đến việc điều trị những trường hợp “tương tư” như vầy. Không lẽ cho con uống thuốc gì đó làm con “hết yêu đương”?. Nên gợi ý cho phụ huynh một vài cách để khuyến khích con tập trung vào việc học, dạy con kỹ năng xử lý các tình huống xã hội và… dĩ nhiên là hy vọng con “ít” sang lớp khác để trồng cây si…

Làm với mấy “con” tuổi vị thành niên, chợt nhớ đến thời niên thiếu của mình, cũng tương tư, cũng trồng cây si, cũng bị người lớn nhắc nhở chuyện học … và cũng không nghe lời … vì yêu. Giờ không lẽ chuyển qua tìm tài liệu “điều trị” cho các “con” trở thành … “vô tình học sinh”?

P/S: đố bạn đọc biết là có bệnh nào mà mỗi khi gặp bác sĩ nào cũng phải “bó tay”?



Hình minh họa: hồi xưa trồng cây si trước nhà em này, bây giờ về chung nhà ... phải làm chuẩn bị chổ cho vợ trồng hoa.

Address

Canberra Central, ACT

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BS PHẠM MINH TRIẾT posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share