BS PHẠM MINH TRIẾT

BS PHẠM MINH TRIẾT Pursuit of Happiness and Excellence Bs Phạm Minh Triết là Trưởng Khoa Tâm Lý – Bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2018.

Mục tiêu nghề nghiệp là hướng đến cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần toàn diện và phù hợp cho trẻ em Việt Nam dựa trên những bằng chứng khoa học. Bs Triết tốt nghiệp chương trình Bác sĩ Y Khoa tại Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 1997. Năm 2010, Bs Minh Triết học xong chương trình Thạc sỹ Y tế Công (Master of Public Health) tại Viện Nhiệt Đới Hoàng Gia Amsterdam tại Hà Lan (Royal Tropical Institute – Amsterdam). Năm 2014, Bs Minh Triết hoàn thành chương trình Thạc sỹ Tâm Lý Lâm Sàng do Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch kết hợp với Trường Tâm Lý Thực Hành – Pháp (Ecole de Psychologues Praticiens). Tháng 7/2024, Bs Phạm Minh Triết tốt nghiệp chương trình Tiến Sỹ Tâm Lý tại Trường Nghiên cứu Tâm lý thuộc Đại Học Quốc Gia Australia (Research School of Psychology – The Australian National University). Một số thông tin liên quan:

https://vnexpress.net/tac-gia/pham-minh-triet-1208.html

https://nld.com.vn/suc-khoe/vi-sao-tre-so-di-hoc-20170718210059553.htm

https://nld.com.vn/suc-khoe/ca-biet-khong-phai-la-hu-hong-20170702213100495.htm

https://nld.com.vn/suc-khoe/tre-hieu-dong-hay-tang-dong-20171125212301614.htm

https://nld.com.vn/suc-khoe/giai-ma-hien-tuong-tre-hoc-kho-2015122421000774.htm

https://nld.com.vn/suc-khoe/nghien-an-toc-la-roi-loan-tam-than-201703142217362.htm

https://tuoitre.vn/con-bi-stress-cha-me-nao-co-hay-1106944.htm

https://tuoitre.vn/may-tinh-bang-thay-sgk-chua-luong-het-tieu-cuc-636973.htm

https://congnghe.tuoitre.vn/bao-mau-cong-nghe-so-564447.htm

https://thanhnien.vn/tre-bi-xam-hai-tinh-duc-chiu-am-anh-tam-ly-nang-ne-lau-dai-post838985.html

https://thanhnien.vn/bac-si-bv-nhi-dong-1-noi-gi-ve-mot-truong-hop-do-mo-hoi-mau-post784724.html

https://thanhnien.vn/giup-tre-bi-bao-hanh-vuot-noi-dau-ky-1-nhung-am-anh-con-mai-post386344.html

https://thanhnien.vn/cha-me-phat-hoang-thay-con-thu-dam-moi-biet-con-som-day-thi-post580782.html..

K.O.L*Hôm rồi, tôi đến phòng khám trong lúc đã có nhiều phụ huynh ngồi chờ (do cũng có bệnh nhi của các bác sĩ khác). Lú...
28/03/2026

K.O.L*

Hôm rồi, tôi đến phòng khám trong lúc đã có nhiều phụ huynh ngồi chờ (do cũng có bệnh nhi của các bác sĩ khác). Lúc tôi khiêng xe đạp vào trong nhà (xe nhẹ, sợ nhà dơ và tôi cũng có tập gym chút chút 😀 ), có một phụ huynh nhìn tôi ngờ ngợ rồi nói với sự ngạc nhiên “ồ, bác sĩ Triết đi xe đạp à?”. Tôi và anh cũng gật đầu chào nhau theo phép xã giao thông thường.

Lát sau, tôi khám cho bé nhà anh. Trong lúc khám và hướng dẫn điều trị cho gia đình, thỉnh thoảng anh cũng nói về những chuyện ngoài chuyên môn. Có một thời điểm anh nói về việc đặt lịch để gặp tôi khó quá vì tôi là K.O.L. Tôi giật mình, hỏi lại “vậy à? Tôi thật sự không biết mình là K.O.L.”

Trong đầu tự nhiên hiện lên hình ảnh mấy bạn K.O.L. mà tôi biết: có ekip quay dựng, có ánh sáng, có kịch bản, có khi còn có cả “stylist”, liên tục ra “content”. Còn tôi thì… có cái xe đạp mượn của đứa em, cái balo, với mấy khối gỗ, vài tờ giấy và viết màu để chơi với trẻ em, thỉnh thoảng buồn buồn viết chơi một chút.

Thật ra, nghề này không phải là nghề “được biết đến”. Ít nhất, với tôi, nó là nghề “làm cho đàng hoàng”.

Một buổi khám tốt thường không có gì đặc biệt để kể. Không có cao trào, không có khoảnh khắc “wow”, mà phần lớn là những khó khăn và những câu chuyện buồn … Cùng ngồi xuống với gia đình, hỏi kỹ một chút, nghe thêm một chút, quan sát lâu hơn, ghép các mảnh thông tin lại với nhau cho đủ. Rồi từ đó, chọn một hướng hỗ trợ phù hợp, không quá nhanh, không quá đẹp, nhưng có khả năng đi được đường dài.

Nhiều phụ huynh đến với một kỳ vọng rất thật: mong có một cách nào đó giúp con “đỡ nhanh hơn”. Điều này hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng phần lớn những gì thực sự hiệu quả lại không phải là những thứ có thể làm nhanh. Và cũng không phải là những thứ dễ kể thành một câu chuyện hấp dẫn.

Có khi chỉ là điều chỉnh lại cách giao tiếp với trẻ.
Có khi là giảm bớt một vài áp lực trong môi trường học.
Có khi là chấp nhận đi chậm lại một chút, để đi đúng hơn.
Những thứ này… nếu đem lên mạng chắc cũng không “viral” lắm.

Nên nếu có gọi tôi là K.O.L., có lẽ tôi là K.O.L. của mấy thứ “kém hấp dẫn”: vài món đồ chơi “con nít”, vài bảng đánh giá hành vi, mấy câu hỏi lặp đi lặp lại với phụ huynh, và những định hướng can thiệp điều trị mà tiến triển tính bằng quý, bằng năm.

Nhưng nếu nói nghiêm túc, điều tôi mong không phải là được biết đến nhiều hơn. Mà là khi một đứa trẻ được đưa đến khám, con có cơ hội được hiểu đúng vấn đề của mình, và nhận đúng can thiệp mà con cần. Không phải can thiệp mang tính phép màu chữa lành, mà là can thiệp “có khả năng giúp con trong bối cảnh thật của con” — trong gia đình, trong trường học, trong văn hóa Việt Nam, nơi ông bà, cha mẹ, thầy cô đều là một phần của hệ thống đó.

Làm đúng những điều này không nhanh. Và cũng không hào nhoáng. Nhưng nếu đi đủ lâu, nó có thể tạo ra những thay đổi thật.

Lúc kết thúc buổi khám, tôi vẫn nhớ về sự ngạc nhiên của anh phụ huynh, có lẽ anh nghĩ “K.O.L. mà đi xe đạp cũng lạ”, có lẽ anh nghĩ tôi sẽ đi xe 4 bánh hoặc ít ra cũng là một chiếc 2 bánh có động cơ …

Tôi thì vẫn thích đi xe đạp từ nhà đến phòng khám. Đi chậm lại một chút, để kịp nhận ra tôi xuất thân từ đâu, trưởng thành hơn nhờ ai và vì sao tôi bắt đầu.

Và có lẽ điều quan trọng nhất, là trên hành trình đó, tôi vẫn mang theo được những điều thật sự cần thiết — những thứ không ồn ào, không nổi bật, nhưng đủ để giữ mình ở lại với nghề, một cách trọn vẹn và yên ắng.



*K.O.L: Key Opinion Leader (Người dẫn dắt quan điểm)

Hình minh họa: xe đạp dùng để đi làm mỗi ngày.

… “Nay “nó” đỡ nhiều rồi bác sĩ. Đợt rồi “nó” làm ghê quá, em sợ quá “chời”. Ba má em định đưa “nó” đi gặp thầy. May mà ...
23/03/2026

… “Nay “nó” đỡ nhiều rồi bác sĩ. Đợt rồi “nó” làm ghê quá, em sợ quá “chời”. Ba má em định đưa “nó” đi gặp thầy. May mà có người gửi bài viết của bác sĩ thấy nó giống nên tìm gặp bác sĩ. Cho em bắt tay bác sĩ cái nhe”…

“Ủa, chị chụp lén bác sĩ làm gì?”, “Em chụp cho bà chị em”, “Cho chị của chị để làm gì, bác sĩ có gia đình rồi”, “Dạ, chị em có đứa nhỏ muốn đi đưa đi khám, em chụp hình “dìa” để cho bả lên khám đúng bác sĩ” (Quê thiệt … cứ tưởng là mình có giá lắm)

“Bác sĩ là bác sĩ giỏi nhứt Sài Gòn phải không?”(định chui xuống đất trốn luôn) “Ai nói “ghê” vậy, con?”, (Con 12 tuổi, người An Giang), “Hỏng biết, dì con nói “zậy”. Mà phải “zậy” không? Con điều trị mấy chổ rồi hỏng hết, không muốn đi nữa, mà dì nói “zậy” nên con đi thử lần nữa” (Này là tại dì… chứ bác sĩ không dám quảng cáo gì)…

“Nó giảm “bịnh” nhiều lắm “gồi”, bác sĩ”, “Ừ, uống hết toa này nếu bé không còn triệu chứng gì nữa thì có thể ngừng điều trị”, “Lần tới, em sẽ tặng quà cho bác sĩ, giờ chưa nghĩ ra” ….
Ca này gặp lúc trước tết, giờ chưa thấy … mang quà gì cho bác sĩ (cũng phải, hết “bịnh” thì lên gặp bác sĩ chi nữa?”).
À mà ai đọc thấy “nhột” thì tiện đường lên Sài Gòn thì ghé tặng quà như đã hứa nhe, cổ bác sĩ dài thêm một khúc rồi nè…

Mấy phụ huynh này ở miền Tây … nói chuyện dễ thương vô cùng.

.

Hôm qua là một ngày… khá nặng đầu.Ca đầu tiên, một trẻ tự kỷ. Gia đình thiếu nguồn lực trầm trọng, việc quản lý hành vi ...
21/03/2026

Hôm qua là một ngày… khá nặng đầu.

Ca đầu tiên, một trẻ tự kỷ. Gia đình thiếu nguồn lực trầm trọng, việc quản lý hành vi của con vẫn dựa vào những trận đòn. Người mẹ hiểu điều đó không đúng, nhưng trong hoàn cảnh đơn thân, phải dựa vào gia đình lớn, chị gần như không có lựa chọn khác.

Chị đến gặp tôi với một niềm hy vọng rất lớn, gần như mong một phép màu. Mà điều này thì không có. Tự nhiên lòng thấy xót xa khi kỳ vọng quá lớn được đặt vào một thực tế tàn nhẫn. Nhớ có lần đứa em từ Cần Thơ lên “nhậu”, thật ra là ngồi với nhau một chút cho đỡ mệt đầu, nó cũng nói cảm giác tương tự. Khi đó chỉ biết nhắc nhau nhìn vào những trường hợp còn có thể giúp được, để có động lực đi tiếp, thay vì cứ giữ mãi cảm giác bất lực trong đầu.

Cũng may vẫn có một hướng ra. Nhưng với nguồn lực hiện có, tôi không chắc nó sẽ đưa đến điều người mẹ mong đợi. Chị nói “Dù nhà rất khó khăn, nhưng em cũng cố gắng thu vén con được gặp bác sĩ”. Nghe vậy, tự nhiên nhớ lại lời Má kể. Hồi nhỏ, có lần tôi bệnh nặng, Má đi năn nỉ một bác sĩ nhận điều trị nhưng bị từ chối vì sợ không có tiền. Nghĩ đến đó, lòng càng nặng nề hơn …

… Tối, ca gần cuối ngày, một trẻ vị thành niên bị lo âu trầm cảm. Gặp riêng, con khóc suốt buổi với bao nhiêu chuyện buồn, bao nhiêu lần 44. Nặng nề đến nổi mắt tôi cũng cay theo (một điều không tốt cho công việc). Chỉ đủ thời gian làm con nhẹ lòng, chỉ đủ thời gian để tìm một lý do thuyết phục để con không thực hiện điều dại dột nữa, chỉ đủ thời gian để hứa với con là sẽ thuyết phục ba mẹ con thay đổi cách ứng xử với con. Gặp phụ huynh chỉ kịp phác thảo nhanh về hướng điều trị tiếp theo và đề nghị gặp riêng phụ huynh một buổi; cũng không biết họ có sẵn sàng đi tiếp cùng con?...

May là trưa được hai chị bên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn đãi bữa trưa món cơm Nhật ở tận Quận 1 cũ. May là tối đạp xe về ngang quán Vệt Nâu nghe miễn phí được trọn bài Saxophone “Năm mươi năm về sau” (bài này vợ thường mở cho nghe suốt khi lái xe ở Úc, cùng với bài “Cỏ Dại và hoa dành dành)… Nhờ vậy cũng nhẹ đầu.

Tối về mới biết hôm qua là Ngày Quốc tế Hạnh phúc. Có lẽ, với nhiều người, hạnh phúc chỉ đơn giản là ngày hôm sau có đủ động lực để có thể tiếp tục đi làm.

P/S: Sáng nay, lồm cồm bò dậy lúc 6 giờ sáng để đi làm. Thay đồ xong xuôi, mở lịch lên mới thấy mình đã xếp lịch nghĩ buổi sáng. Không biết có nên hạnh phúc không khi không được “nướng” một chút cuối tuần?



Hình: ChatGPT

NẾU CUỘC ĐỜI KHÔNG RỰC RỠ THÌ SAO?(Bài viết riêng cho Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ngày 19/3/2026)1. Khi “rực rỡ” trở thành...
20/03/2026

NẾU CUỘC ĐỜI KHÔNG RỰC RỠ THÌ SAO?

(Bài viết riêng cho Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ngày 19/3/2026)

1. Khi “rực rỡ” trở thành một chuẩn mực vô hình
“Nếu cuộc đời không rực rỡ thì sao?” được “viral” trên mạng xã hội gần đây làm tôi nhớ lại tâm trạng của nhiều thân chủ tôi đã gặp. Có em đang học cấp 3, có em vừa bước vào đại học và cũng có người đang phân vân giữa việc học tiếp cao học hay đi làm. Tất cả đều ở tâm trạng lo lắng về cảm giác bị xem là “tầm thường” trong mắt nhiều người vì chưa có gì “rực rỡ”.

Câu hỏi “viral” như ngầm giả định rằng: một cuộc đời đáng giá phải là một cuộc đời rực rỡ. Giả định đó không chỉ xuất hiện ở cấp độ cá nhân. Nó dần trở thành một chuẩn mực văn hóa của thời đại mạng xã hội, nơi thành công thường được kể lại dưới dạng những câu chuyện nổi bật: người khởi nghiệp thành công rất sớm, người đạt được thành tựu lớn ở tuổi còn trẻ, người có sự nghiệp được ngưỡng mộ.

Khi những câu chuyện này được lặp lại đủ nhiều, chúng dễ tạo ra một thước đo vô hình. Người trẻ bắt đầu nhìn vào các hình mẫu đó rồi tự hỏi: mình đã đủ rực rỡ chưa?

Trong khi đó, nếu quan sát đời sống thực tế, phần lớn cuộc đời con người không được xây dựng từ những khoảnh khắc rực rỡ, mà từ những giai đoạn rất bình thường: học hỏi, thử nghiệm, sai lầm rồi điều chỉnh. Chính những giai đoạn ít được chú ý này mới là phần chiếm nhiều nhất của một cuộc đời.

2. Vì sao ta dễ nghĩ rằng ai cũng đang thành công
Một yếu tố tâm lý – xã hội quan trọng phía sau cảm giác “cuộc đời mình chưa đủ sáng” là hai hiện tượng đã được nghiên cứu nhiều trong môi trường truyền thông số: “buồng vang” (echo chamber) và “bong bóng lọc” (filter bubble).

“Bong bóng lọc” là hiện tượng các nền tảng số cá nhân hóa thông tin dựa trên hành vi của người dùng. Thuật toán ghi nhận những gì chúng ta tìm kiếm, đọc, thích hoặc chia sẻ, rồi tiếp tục đề xuất những nội dung tương tự. Theo thời gian, mỗi người dần sống trong một “bong bóng thông tin” riêng, nơi phần lớn những gì họ nhìn thấy đều phù hợp với sở thích và quan điểm sẵn có [1].

Khi hiện tượng này kết hợp với “buồng vang”, hiệu ứng càng mạnh hơn. “Buồng vang” mô tả tình huống trong đó những người có quan điểm giống nhau tập trung trong cùng một không gian thông tin và liên tục lặp lại các ý tưởng tương tự. Những ý kiến giống nhau được khuếch đại, còn những góc nhìn khác biệt ít xuất hiện hơn [2].

Trong môi trường mạng xã hội, hai hiện tượng này thường diễn ra đồng thời. Thuật toán lọc nội dung trước, sau đó cộng đồng người dùng tiếp tục lặp lại và khuếch đại các thông tin tương tự. Khi những câu chuyện về thành công, nổi bật hay “cuộc đời rực rỡ” liên tục xuất hiện trong dòng thông tin cá nhân, người ta dễ có cảm giác rằng ai cũng đang sống rất thành công.

Nhưng thực tế, những gì ta nhìn thấy chỉ là những khoảnh khắc được chọn lọc. Những giai đoạn bình thường – nơi con người loay hoay học nghề, đổi hướng, hoặc thậm chí là thất bại – thường không xuất hiện trong không gian thông tin đó.

Kết quả là nhiều người trẻ bắt đầu so sánh toàn bộ cuộc đời thật của mình, bao gồm cả những giai đoạn chưa rõ ràng và những thất bại nhỏ, với những lát cắt đẹp nhất trong cuộc đời của người khác. Sự so sánh không cân xứng này dễ dẫn đến cảm giác hụt hẫng hoặc nghi ngờ giá trị bản thân.

3. Ngay cả những cuộc đời “rực rỡ” cũng từng rất bình thường
Một điều đáng chú ý là nhiều cuộc đời sau này được xem là rực rỡ thực ra không hề bắt đầu theo cách đó.

Steve Jobs thường được nhắc đến như một biểu tượng thành công của ngành công nghệ. Nhưng năm 1985, ông bị chính công ty mà mình sáng lập – Apple – sa thải. Đối với nhiều người, đó có thể là một thất bại mang tính quyết định.

Tuy nhiên, giai đoạn tưởng như thất bại đó lại mở ra những hướng đi khác. Jobs thành lập công ty NeXT và đầu tư vào Pixar. Pixar sau này trở thành một trong những hãng phim hoạt hình có ảnh hưởng lớn trên thế giới, còn công nghệ của NeXT trở thành nền tảng quan trọng khi Apple mua lại công ty này và mời ông quay trở lại.

Nhìn lại toàn bộ hành trình, điều đáng chú ý không phải là một cuộc đời rực rỡ liên tục. Thay vào đó, những giai đoạn tưởng như bình thường hoặc thất bại lại chính là phần tạo nên những bước ngoặt sau này.

4. Điều quyết định thường không phải là ánh sáng, mà là nội lực
Trong tâm lý học phát triển, yếu tố giúp một con người đi xa trong cuộc sống thường không phải là số lần họ tỏa sáng, mà là nội lực tâm lý.

Một khái niệm thường được nhắc đến là resilience – khả năng phục hồi sau khó khăn. Người có năng lực này không nhất thiết tránh được thất bại, nhưng họ có khả năng học hỏi từ trải nghiệm và tiếp tục tiến lên.

Một khái niệm khác là growth mindset – cách nhìn nhận rằng năng lực của con người có thể phát triển qua quá trình học hỏi và rèn luyện. Khi nhìn cuộc đời theo cách này, những giai đoạn chưa thành công không còn bị xem là dấu chấm hết, mà là một phần của tiến trình trưởng thành.
Trong thực hành tâm lý với thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ tuổi, một nhầm lẫn khá phổ biến là đồng nhất giá trị bản thân với thành tích bên ngoài. Khi điều này xảy ra, mỗi thất bại nhỏ cũng dễ được cảm nhận như một thất bại của toàn bộ con người.

Ngược lại, khi giá trị bản thân được xây dựng từ nội lực – khả năng học hỏi, sự kiên trì, khả năng phục hồi – con người có thể đi qua nhiều giai đoạn rất bình thường mà vẫn tiếp tục phát triển.

5. Quay vào bên trong để tạo nội lực
Vì vậy, khi gặp câu hỏi “Nếu cuộc đời không rực rỡ thì sao?”, có lẽ hướng suy nghĩ hữu ích hơn là chuyển sự chú ý từ bên ngoài vào bên trong.

Nội lực thường được xây dựng từ những điều khá giản dị: khả năng học hỏi liên tục, sự kiên trì trong công việc, sức khỏe thể chất, các mối quan hệ đáng tin cậy và một nhịp sống đủ cân bằng để con người có thể phục hồi sau những áp lực hàng ngày.

Những điều này hiếm khi tạo ra ánh sáng lớn ngay lập tức. Nhưng theo thời gian, chính chúng lại là nền tảng giúp một con người đi được xa hơn.

Trong bài phát biểu nổi tiếng tại Đại học Stanford năm 2005, Steve Jobs từng nói:
“You can’t connect the dots looking forward; you can only connect them looking backwards.”
Bạn không thể nối các điểm của cuộc đời khi nhìn về phía trước; bạn chỉ có thể nối chúng lại khi nhìn về phía sau.
Nhiều giai đoạn trong cuộc đời trông rất bình thường khi ta đang sống trong đó. Nhưng khi nhìn lại, chính những quãng thời gian tưởng như lặng lẽ ấy lại là những điểm nối tạo nên toàn bộ hành trình.

Vì vậy, một cuộc đời không nhất thiết phải rực rỡ ngay lập tức. Chỉ cần nó đủ vững để bạn tiếp tục bước đi – và đủ bình an để bạn cảm thấy mình đang sống đúng với giá trị của mình – thì điều đó tự thân đã là một thành công rực rỡ.

, ,

Tài liệu tham khảo
[1] Pariser, E. (2011). The Filter Bubble: What the Internet Is Hiding from You. Penguin Press.
[2] Sunstein, C. R. (2001). Republic.com. Princeton University Press.

LỚP "QUẢN LÝ HÀNH VI TRẺ MẮC TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý DÀNH CHO PHỤ HUYNH" Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là rối loạn p...
20/03/2026

LỚP "QUẢN LÝ HÀNH VI TRẺ MẮC TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý DÀNH CHO PHỤ HUYNH"

Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là rối loạn phát triển thần kinh thường gặp, với ba nhóm biểu hiện chính: giảm chú ý, tăng động và xung động. Trẻ dễ mất tập trung, hay quên, khó hoàn thành nhiệm vụ; đồng thời thường xuyên chạy nhảy, khó ngồi yên, nói nhiều, hành động vội vàng. Các biểu hiện này kéo dài, xuất hiện ở nhiều môi trường và ảnh hưởng rõ đến học tập, hành vi và quan hệ xã hội.

ADHD thường được chẩn đoán từ khoảng 4–6 tuổi thông qua đánh giá toàn diện từ gia đình, nhà trường và các công cụ chuyên môn. Việc điều trị thường kết hợp việc quản lý hành vi và sử dụng thuốc, trong đó huấn luyện phụ huynh về quản lý hành vi là nền tảng quan trọng, đặc biệt ở trẻ dưới 12 tuổi.

Lớp "Quản lý hành vi trẻ mắc Tăng động giảm chú ý dành cho phụ huynh" sẽ được tổ chức vào sáng chủ nhật, ngày 12/4/2026 từ 8:00 đến 11:30 với mục đích cung cấp cho phụ huynh những kỹ thuật quản lý hành vi được nhiều chương trình can thiệp dựa vào bằng chứng trên thế giới áp dụng.

Xem thông tin và đăng ký học qua link ở phần bình luận hoặc scan hình.

, ,

CÁC LỚP HỌC DÀNH CHO PHỤ HUYNH THÁNG 4 VÀ THÁNG 5/2026Lớp được thực hiện trực tuyến (online) trên Google Meet, vào sáng ...
19/03/2026

CÁC LỚP HỌC DÀNH CHO PHỤ HUYNH THÁNG 4 VÀ THÁNG 5/2026

Lớp được thực hiện trực tuyến (online) trên Google Meet, vào sáng chủ nhật từ 8:00 đến 11:30 giờ Việt Nam. Bài hướng dẫn và link video lớp học sẽ được gửi qua email sau khi học.

Người hướng dẫn: TS. BS Phạm Minh Triết
- Cố vấn chuyên môn Phòng Khám Tâm Lý Nhi Đồng
- Nguyên Trưởng Khoa Tâm Lý Bệnh viện Nhi Đồng 1 – TP. Hồ Chí Minh 2011-2018
- Tiến sĩ Tâm Lý Trường Y Khoa và Tâm Lý – Đại học Quốc Gia Australia
- Tác giả chính của công trình nghiên cứu đăng trên International Journal of Clinical and Health Psychology về chương trình can thiệp hành vi cho trẻ nhỏ. (Link bài báo: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC10869913/)

Phụ huynh xem thông tin chi tiết ở link đính kèm (hoặc scan hình):

1. Lớp “Quản lý Hành vi ở trẻ mắc Rối loạn Tăng Động Giảm Chú Ý”: ngày 12/4/2026
https://forms.gle/4HMpg7DF2hEYhYdCA (hình scan màu xanh dương)

2. Lớp “Quản lý Hành vi ở trẻ mắc Rối loạn Thách thức Chống Đối”: ngày 26/4/2026
https://forms.gle/8CDn4TNZ55zi1HVg9 (hình scan màu xanh lá cây)

3. Lớp “Hiểu và Quản lý hành vi ở trẻ mắc Rối loạn Phổ Tự Kỷ”: ngày 10/5/2026
https://forms.gle/xovECT4WR1sMAnQy6 (hình scan màu đỏ)

, ,

GIÁM SÁT NGUY CƠ RỐI LOẠN TÂM THẦN TRONG CỘNG ĐỒNG: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN CẦN THIẾT(Bài viết riêng cho Thời Báo Kinh Tế Sài...
18/03/2026

GIÁM SÁT NGUY CƠ RỐI LOẠN TÂM THẦN TRONG CỘNG ĐỒNG: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN CẦN THIẾT

(Bài viết riêng cho Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, đăng ngày 12/3/2026)

Khi còn học tiến sĩ tại Úc, tôi từng thấy một vài nghiên cứu sinh khi gặp bế tắc trong quá trình làm luận án đã xin tạm nghỉ một thời gian ngắn để gặp chuyên gia tâm lý. Ý nghĩ nhanh lúc đó là tôi khá ngạc nhiên vì nghĩ rằng áp lực nghiên cứu là điều bình thường và ai làm tiến sĩ cũng phải trải qua những giai đoạn khó khăn. Nhưng ở góc độ chuyên môn với nhiều năm làm việc trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, tôi nhìn lại câu chuyện đó theo một cách khác. Những sinh viên đó không yếu đuối. Họ chỉ đang áp dụng một cách tiếp cận phòng ngừa. Khi stress bắt đầu vượt quá khả năng thích nghi, họ tìm kiếm hỗ trợ sớm để tránh rơi vào các rối loạn nặng hơn như trầm cảm hay lo âu mãn tính. Từ trải nghiệm đó, tôi nhận ra một điều quan trọng: chăm sóc sức khỏe tâm thần không chỉ dành cho người đã mắc bệnh. Nó còn dành cho những người đang ở trạng thái nguy cơ.

1. Một thực tế quen thuộc trong môi trường làm việc

Trong thời gian còn làm việc tại Khoa Tâm Lý - bệnh viện Nhi Đồng 1, chúng tôi từng thực hiện một vài khảo sát nhỏ về sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng. Công cụ được sử dụng là DASS – viết tắt của Depression Anxiety Stress Scales, tạm dịch là Thang đo Trầm cảm – Lo âu – Stress. Đây là một bộ công cụ sàng lọc tâm lý khá phổ biến trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng. Kết quả khảo sát cho thấy hơn 50% nhân viên có mức stress đáng kể. Khoảng 10–20% có những biểu hiện gợi ý lo âu hoặc trầm cảm. Những con số này không quá bất ngờ. Nhân viên y tế thường làm việc trong môi trường áp lực cao, tiếp xúc với bệnh tật, đau khổ và nhiều quyết định khó khăn. Điều này cũng có thể xảy ra ở những ngành nghề mà người làm việc thường ở trong trạng thái căng thẳng kéo dài.

Stress thường không xuất hiện đột ngột. Nó tích lũy dần theo thời gian. Một người có thể bắt đầu bằng mất ngủ, khó tập trung, mệt mỏi kéo dài hoặc cảm giác kiệt sức trong công việc. Khi tình trạng căng thẳng kéo dài trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, hệ thống điều hòa cảm xúc của cơ thể bị bào mòn. Stress lúc này không còn là phản ứng thích nghi tạm thời mà trở thành stress mãn tính. Ở trạng thái đó, con người dễ trở nên nhạy cảm hơn với các biến cố trong cuộc sống. Chỉ cần một sự kiện kích hoạt, chẳng hạn như áp lực công việc đột ngột, thất bại cá nhân, xung đột gia đình hoặc biến cố tài chính, tình trạng căng thẳng mạn tính có thể nhanh chóng chuyển thành các rối loạn tâm thần rõ ràng như trầm cảm, rối loạn lo âu hoặc kiệt sức nghề nghiệp. Nói cách khác, stress kéo dài giống như một nền đất đã yếu. Khi có thêm một biến cố kích hoạt, sự mất cân bằng tâm lý có thể xuất hiện rất nhanh.

2. Dự thảo của Bộ Y tế về phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe tâm thần

Đề xuất gần đây của Bộ Y tế về việc giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần trong cộng đồng là một bước đi đáng chú ý. Theo dự thảo thông tư hướng dẫn Luật Phòng bệnh đang được lấy ý kiến, hệ thống giám sát sẽ không chỉ theo dõi những người đã mắc rối loạn tâm thần mà còn bao gồm nhóm có nguy cơ. Trong đó có những người chịu áp lực học tập, áp lực công việc hoặc stress kéo dài. Mục tiêu của việc giám sát là phát hiện sớm các dấu hiệu nguy cơ và hỗ trợ kịp thời trong cộng đồng thay vì chờ đến khi bệnh đã tiến triển nặng.

Dự thảo cũng xác định ba nhóm đối tượng chính cần theo dõi: người mắc rối loạn tâm thần, người tử vong do rối loạn tâm thần và nhóm có nguy cơ mắc bệnh. Nhóm nguy cơ được xác định dựa trên các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, trong đó stress kéo dài, sang chấn tâm lý hoặc áp lực học tập và công việc được xem là những yếu tố đáng chú ý [1].

3. Một hướng đi phù hợp với xã hội đang phát triển

Nếu nhìn từ góc độ y tế công cộng, đề xuất này phản ánh một sự thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận sức khỏe tâm thần. Trong nhiều năm, hệ thống y tế chủ yếu tập trung vào việc điều trị những trường hợp đã phát bệnh. Khi rối loạn tâm thần đã hình thành, người bệnh thường bị suy giảm khả năng học tập và lao động; nhiều trường hợp bệnh kéo dài, dễ tái phát và tạo ra gánh nặng đáng kể cho cá nhân, gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, phần lớn các rối loạn tâm thần không xuất hiện đột ngột mà thường trải qua một giai đoạn nguy cơ kéo dài. Trong giai đoạn này, các biểu hiện như stress kéo dài, rối loạn giấc ngủ, lo âu hoặc suy giảm chức năng có thể đã xuất hiện nhưng chưa đạt ngưỡng chẩn đoán. Nếu được nhận diện và can thiệp sớm, nhiều trường hợp có thể được phòng ngừa hoặc giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng của rối loạn sau này.

Khi một quốc gia phát triển nhanh, xã hội thường đi kèm với nhiều yếu tố bất định. Áp lực học tập gia tăng, môi trường làm việc cạnh tranh hơn, nhịp sống nhanh và nhiều biến động. Công nghệ thay đổi liên tục cũng đòi hỏi con người phải thích nghi thường xuyên. Trong bối cảnh đó, việc quan tâm đến sức khỏe tâm thần ngay từ giai đoạn nguy cơ không phải là sự “bệnh lý hóa” stress, mà là một bước chuẩn bị cần thiết cho tương lai. Đây chính là sự chuyển dịch từ mô hình “chữa bệnh tâm thần” sang mô hình “bảo vệ sức khỏe tâm thần”.

4. Một vài gợi ý

Để chính sách này phát huy tác dụng, cần một cách tiếp cận nhiều tầng. Ở cấp độ hệ thống, việc giám sát cần dựa trên các công cụ sàng lọc khoa học nhưng đơn giản để có thể áp dụng tại y tế cơ sở, trường học và nơi làm việc. Nhân viên y tế cộng đồng cần được đào tạo để nhận diện stress kéo dài và các dấu hiệu sớm của rối loạn tâm thần. Đồng thời, việc thu thập thông tin phải đảm bảo quyền riêng tư và tránh kỳ thị đối với người được đánh giá nguy cơ.

Bên cạnh chính sách, vai trò của từng cá nhân cũng rất quan trọng. Trong xã hội hiện đại, khả năng duy trì cân bằng giữa công việc và cuộc sống (work–life balance) trở thành một yếu tố bảo vệ sức khỏe tâm thần. Mỗi người cần chủ động sắp xếp thời gian nghỉ ngơi, vận động thể chất và các hoạt động phục hồi năng lượng mỗi ngày. Những thói quen đơn giản như ngủ đủ giấc, tập thể dục, duy trì các mối quan hệ xã hội tích cực, hoặc dành thời gian cho các hoạt động thư giãn có thể giúp cơ thể và hệ thần kinh phục hồi sau những căng thẳng trong ngày. Khi stress được giải tỏa thường xuyên, khả năng thích nghi của con người với các biến cố trong cuộc sống cũng tốt hơn.

Trong y học hiện đại, phòng ngừa luôn hiệu quả hơn điều trị. Điều này đúng với nhiều dạng bệnh tật như tim mạch, ung thư và cả rối loạn tâm thần. Nếu một chính sách giúp xã hội nhận diện sớm nguy cơ và hỗ trợ con người trước khi bệnh xuất hiện, thì đó là một bước tiến hợp lý trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, đặc biệt trong một xã hội đang phát triển nhanh và phải đối diện với nhiều biến động trong tương lai.

, ,

TS.BS Phạm Minh Triết

Tài liệu tham khảo:
1.h ttps://vnexpress.net/de-xuat-giam-sat-nguy-co-tam-than-o-nguoi-chiu-ap-luc-cong-viec-tai-chinh-5047248.html

Bài này viết cách đây đúng 1 năm, trong bài có đề cập đến 1 trường hợp trẻ vị thành niên. Ca này khi mới vào đại học cũn...
15/03/2026

Bài này viết cách đây đúng 1 năm, trong bài có đề cập đến 1 trường hợp trẻ vị thành niên. Ca này khi mới vào đại học cũng bị tái phát trở lại. May mắn là con đã vượt qua và vừa mới đạt các giải hạng đầu talk show của trường. Hy vọng là những thành công này tiếp sức thêm để con hoàn toàn bình phục.

ĐỪNG ĐỂ LỜI NÓI TIÊU CỰC ĐỊNH NGHĨA BẠN
(Bài viết riêng cho Tạp chí Kinh Tế Sài Gòn, đăng ngày 13/3/2025)

Con đã từng là một thủ lĩnh trong tổ chức của mình. Một lần nào đó, con mắc lỗi lầm và nhận một vài nhận xét tiêu cực. Con bắt đầu hoài nghi chính bản thân mình, và vì điều này, con dần mất tự tin. Lâu dần, con gục ngã. Con sợ gặp những người đã chỉ trích con, con sợ gặp luôn những người khác trong tổ chức. Mỗi khi gặp họ, con cảm thấy mất đi sự tự tin đã có, con thấy mình là một người hèn nhát, bất tài, vô dụng...

Anh vẫn đang là một trưởng phòng trong một tổ chức lớn. Trước đây, có một lần hội nghị do anh chịu trách nhiệm có vài hạt sạn. Anh bị cấp trên phê bình, và từ đó anh mất luôn sự tự tin. Anh luôn có cảm giác lo lắng khi phải gặp lãnh đạo của tổ chức và của các phòng ban khác, nhìn họ, anh luôn có cảm giác bản thân mình bất tài vô dụng. Anh sợ và tránh né những cuộc họp trong tổ chức, khi mà các lãnh đạo phòng ban họp bàn kế hoạch. Anh chỉ cảm thấy an toàn khi ở trong phòng nơi anh đang là lãnh đạo. Nhưng cảm giác này cũng không thể kéo dài lâu vì anh vẫn lo lắng khi có người từ phòng ban khác đến liên hệ làm việc. Hiện giờ, anh sợ phải đến nơi làm việc, sợ sẽ chạm mặt ai đó trên đường vào phòng ban của mình. Mỗi lần đến trước cổng cơ quan, anh đều cảm thấy lo lắng và quyết định quay về nhà.

Hai trường hợp trên đều liên quan đến Rối loạn lo âu xã hội (Social Anxiety Disorder – SAD), trong đó nỗi sợ bị đánh giá tiêu cực đã dẫn đến sự né tránh và suy giảm nghiêm trọng chức năng xã hội cũng như công việc.

Rối loạn lo âu xã hội ảnh hưởng đến khoảng 4% dân số nói chung (1), nhưng tỷ lệ này có thể lên đến 36% ở nhóm người từ 16 đến 29 tuổi (2). Rối loạn thường khởi phát từ thời niên thiếu hoặc giai đoạn đầu trưởng thành. Đối với người đi làm, các triệu chứng có thể bộc lộ rõ ràng trong môi trường công việc, đặc biệt khi cá nhân từng trải qua những tình huống bị phê bình hoặc thất bại.

Triệu chứng chính bao gồm nỗi sợ hãi khi phải đối mặt với người khác, đặc biệt là những người có quyền đánh giá họ. Người mắc có thể cảm thấy tự ti, vô dụng, sợ bị chỉ trích, và né tránh các tình huống xã hội hoặc công việc có liên quan. Họ cũng có thể có các triệu chứng cơ thể như tim đập nhanh, đổ mồ hôi, run rẩy khi phải tiếp xúc với người khác. Trong trường hợp nặng, sự lo lắng lan rộng, khiến họ không thể duy trì cuộc sống xã hội hoặc công việc bình thường.

Biến chứng thường gặp bao gồm trầm cảm, rối loạn lo âu lan tỏa, mất khả năng làm việc hoặc duy trì các mối quan hệ xã hội. Trong những trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có thể phát triển rối loạn tránh né (Avoidant Personality Disorder) hoặc thậm chí có ý nghĩ tiêu cực về bản thân. Những người bị SAD có thể dần thu mình, mất đi cơ hội phát triển trong công việc, xa lánh bạn bè và người thân, khiến chất lượng cuộc sống suy giảm nghiêm trọng.

Tiên lượng của rối loạn này phụ thuộc vào mức độ lo âu và sự né tránh của bệnh nhân. Nếu được can thiệp sớm, nhiều người có thể hồi phục và lấy lại sự tự tin. Tuy nhiên, nếu không được điều trị, SAD có thể kéo dài nhiều năm và gây ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống cá nhân và sự nghiệp. Một số người, do không chịu được áp lực từ sự lo âu kéo dài, có thể tìm đến những cách đối phó không lành mạnh như lạm dụng rượu bia hoặc chất kích thích để tạm quên đi cảm giác sợ hãi và tự ti.

Điều trị hiệu quả nhất là liệu pháp nhận thức – hành vi (Cognitive Behavioral Therapy – CBT), giúp bệnh nhân thay đổi cách nhìn về bản thân và học cách đối mặt với những tình huống gây lo âu một cách có kiểm soát. Phơi nhiễm hoặc Tiếp xúc dần (gradual exposure) là kỹ thuật quan trọng giúp họ từng bước đối diện với những tình huống mà họ sợ hãi. Trong một số trường hợp, các nhóm thuốc điều trị đặc hiệu lo âu có thể được sử dụng để hỗ trợ kiểm soát triệu chứng. Bên cạnh đó, xây dựng lại sự tự tin, học cách điều chỉnh phản ứng cảm xúc và phát triển kỹ năng đối phó với áp lực cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hồi phục.

Ở trường hợp đầu, con đã rơi vào tình trạng hoảng loạn và phải cần đến thuốc đặc hiệu cũng như chặn hoàn toàn những tác nhân tiêu cực, nâng đỡ, điều trị tâm lý liên tục mỗi ngày trong suốt tuần đầu tiên. Việc nâng đỡ, điều trị tâm lý được dãn cách dần trong ba tuần tiếp theo. Đến tuần thứ tư, khi tâm trạng tương đối ổn định, con bắt đầu thực hiện kỹ thuật phơi nhiễm bằng cách tiếp xúc dần những tình huống làm con lo lắng ở mức độ mà con có thể chịu đựng được. Hiện tại, con vẫn còn lo lắng nhẹ với một vài tình huống đặc biệt nhưng nhìn chung thì tiên lượng về khả năng hồi phục của con khá tốt. Mặc dù vậy, việc duy trì trị liệu tâm lý vẫn rất cần thiết để tránh nguy cơ tái phát khi gặp phải những biến cố tương tự trong tương lai. Ở trường hợp thứ hai, anh chỉ gặp tôi một buổi để hiểu được một cách tổng quát về tiến trình can thiệp và điều trị. Sau đó không thấy tái khám…

Đối mặt với rối loạn lo âu xã hội không dễ dàng, nhưng điều quan trọng là biết rằng bạn không đơn độc. Sự giúp đỡ luôn có sẵn, từ những người thân yêu, chuyên gia tâm lý cho đến những phương pháp điều trị đã được chứng minh.

Đừng để lời nói tiêu cực định nghĩa bạn. Chúng có thể len lỏi vào lòng tự trọng và đánh gục bạn nếu bạn đồng ý cho chúng vào. Sự thật là bạn lớn hơn những phán xét đó. Bạn là kết quả của ước mơ, nỗ lực và niềm tin của chính mình. Khi đối mặt với tiêu cực, hãy chọn yêu thương bản thân, giữ vững sự thật và không ngừng tin vào giá trị của mình. Bạn không phải là người họ nói, mà là người bạn quyết định trở thành.

Học cách yêu thương bản thân, chấp nhận rằng ai cũng có thể mắc sai lầm và tập trung vào việc xây dựng lại sự tự tin chính là chìa khóa để vượt qua. Không phải lỗi lầm hay lời đánh giá của người khác quyết định giá trị của bạn, mà là cách bạn đứng dậy và tiếp tục tiến về phía trước.

, , ,

TS.BS Phạm Minh Triết

Tài liệu tham khảo:
1. Stei n, D. J., Lim, C. C. W., Roest, A. M., de Jonge, P., Aguilar-Gaxiola, S., Al-Hamzawi, A., Alonso, J., Benjet, C., Bromet, E. J., Bruffaerts, R., de Girolamo, G., Florescu, S., Gureje, O., Haro, J. M., Harris, M. G., He, Y., Hinkov, H., Horiguchi, I., Hu, C., Karam, A., … WHO World Mental Health Survey Collaborators (2017). The cross-national epidemiology of social anxiety disorder: Data from the World Mental Health Survey Initiative. BMC medicine, 15(1), 143. https://doi.org/10.1186/s12916-017-0889-2
2. Jefferies, P., & Ungar, M. (2020). Social anxiety in young people: A prevalence study in seven countries. PloS one, 15(9), e0239133. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0239133

Address

Canberra Central, ACT

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when BS PHẠM MINH TRIẾT posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram