Imtadus

Imtadus iMTAD
Thiết kế Đồ họa - Xây dựng Thương hiệu - In ấn - Sáng tạo Website cho doanh nghiệp ở mọi quy mô.

Từ thiết kế logo, brochure, bao bì, poster cho đến giải pháp website (cung cấp domain name, thiết kế & hosting) trọn gói với giá rẻ không ngờ. IMTAD, LLC – Creative Branding & Professional Printing in the USA
Based in California, IMTAD is a creative agency specializing in graphic design, branding, digital printing, and website development for businesses of all sizes. From logos and brochures to packaging, posters, and full-scale web solutions — we help brands express their identity with precision and impact. Whether you're a startup or a global business, our team delivers high-quality, customized design and print services with speed, integrity, and creativity. Thiết kế thương hiệu & In ấn chuyên nghiệp tại Hoa Kỳ
IMTAD là công ty sáng tạo chuyên cung cấp các dịch vụ thiết kế đồ họa, xây dựng thương hiệu, in ấn kỹ thuật số và phát triển website cho doanh nghiệp ở mọi quy mô. Từ thiết kế logo, brochure, bao bì, poster cho đến giải pháp website trọn gói – chúng tôi giúp thương hiệu của bạn thể hiện bản sắc một cách ấn tượng và chuyên nghiệp. Dù bạn là startup hay doanh nghiệp toàn cầu, đội ngũ IMTAD cam kết mang đến dịch vụ thiết kế – in ấn – sáng tạo chất lượng cao, đúng tiến độ và uy tín.

Saturday morning! Wishing peace and happiness to everyone. Have a great day ahead.
11/11/2023

Saturday morning!
Wishing peace and happiness to everyone. Have a great day ahead.

Gần 30 công ty, nhà máy, cơ xưởng chuy đóng giày da và túi xách da (xịn) của Việt Nam sẽ “TUNG HOÀNH” trên xứ cờ hoa chậ...
23/10/2023

Gần 30 công ty, nhà máy, cơ xưởng chuy đóng giày da và túi xách da (xịn) của Việt Nam sẽ “TUNG HOÀNH” trên xứ cờ hoa chậm nhất là cuôinawm 2023.

Cô/chú nào mê thời trang, nhất là giày và túi xách Made in Vietnam xin đón chờ nhé

ĐẦU NĂM DẦN NÓI CHUYỆN CỌPDần là chi thứ ba và được coi là con vật linh thiêng nhất trong thập nhị chi (mười hai chi). N...
30/01/2022

ĐẦU NĂM DẦN NÓI CHUYỆN CỌP

Dần là chi thứ ba và được coi là con vật linh thiêng nhất trong thập nhị chi (mười hai chi). Nó tượng trưng cho uy quyền, sự dũng mãnh.

Người Việt Nam nói riêng và người Châu Á nói chung vốn rất ưu ái cho con vật này và luôn dành cho nó một sự sùng kính. Chẳng thế mà dân gian vẫn gọi hổ là “Ông ba mươi”, là “Chúa sơn lâm”, là “Ngài”. Hay dùng hổ để ví von bằng một sự tôn kính như nói về cha con cùng tài giỏi là “Hổ phụ sinh hổ tử”, nói về tướng võ oai phong là “hổ tướng”… Hổ được mệnh danh là chúa sơn lâm, là vua của các loài vật.

Hổ là một từ gốc Hán, người Việt mượn nguyên xi chữ 虎 trong Hán ngữ để tạo ra chữ Nôm 虎 (hổ), nghĩa là con cọp. Xin lưu ý, có nhiều từ Hán Việt đọc là hổ nhưng nghĩa hoàn toàn khác. Ví dụ: hổ khẩu (虎口) không phải là miệng hổ, mà là chỗ khe giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ; bích hổ (壁虎) và hiết hổ (蠍虎) là con thằn lằn (thạch sùng); bạo hổ (暴虎) không phải là cọp dữ, mà có nghĩa là “tay không bắt sống được cọp”; yên chi hổ (胭脂虎) là con cọp thoa phấn, dùng chỉ người đàn bà dữ như cọp; long hổ (龍虎) là rồng và cọp, chỉ người vô cùng tài giỏi, song khi nói mã hổ (馬虎) thì không có nghĩa là ngựa và cọp, mà là từ chỉ sự cẩu thả, tùy tiện. Bạch hổ (白虎) là cọp trắng, vằn đen, song còn nghĩa là hung thần, tên chòm sao bảy ngôi ở phương Tây hoặc tục xưng đàn bà không có lông ở chỗ kín; hổ kình (虎鯨) là tên gọi của một loài cá heo đen lớn (Orcinus orca). Dĩ nhiên, những từ hổ mang, hổ trâu, hổ lửa hay hổ đất, hổ hành, hổ rọ, hổ ngựa, hổ lai, hổ mày, hổ cóc… không dùng để chỉ con hổ, mà nói về những loài rắn hổ. Đây là những từ đã được ghi nhận trong La Cochinchine et ses habitants: (provinces de l’Ouest) của J.C.Baurac (1894).

Ngoài những tên nêu trên, người ta còn gọi con cọp là “chúa sơn lâm”, vì đây là loài mãnh thú đáng sợ nhất trong rừng, trên đầu có những vằn giống như chữ 王 (vương) trong Hán ngữ. Cách gọi “ông ba mươi” xuất phát 2 giả thuyết chính: theo lệ ngày xưa, ai bắt được cọp thì thưởng 30 quan tiền hoặc “cứ đêm ba mươi là cọp về gầm thét, dân làng tỏ lòng kính trọng cọp dùng ngay danh từ Ông Ba Mươi để gọi cọp” (trích Việt Nam truyền kỳ tập truyện - tập 1 của Toan Ánh, Quê Hương xuất bản năm 1983).

LỊCH SỬ NHÂN VẬT NỔI TIẾNG
>>Những người tuổi Dần nổi tiếng ở Việt Nam

1- Vua Trần Thái Tông
Sinh năm 1218 (Mậu Dần ), mất năm 1277. Là vị vua đầu tiên của nhà Trần.

Quê quán ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là Mỹ Lộc, Nam Định). Làm vua từ năm 7 tuổi (năm 1225), ở ngôi 32 năm, làm Thái Thượng hoàng 19 năm, từ khi truyền ngôi cho con là Thái tử Trần Hoảng (sau là Vua Trần Thánh Tông).

Ông đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt chống lại cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông. Với thắng lợi vẻ vang lưu truyền sử sách, đức vua Trần Thái Tông trở thành một vị minh quân. Ông còn được sử sách Phật giáo tôn xưng như bậc Thiền sư. Trần Thái Tông để lại cho đời sau một số tác phẩm như: Khóa hư lục, Thiền tông chỉ nam, Lục thời sám hối khoa nghi...

2- Nhà Sử học Lê Văn Hưu
Lê Văn Hưu sinh năm 1230 (Canh Dần ), tại làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, (nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Thuở nhỏ, khôi ngô tuấn tú, tư chất thông minh. Năm 18 tuổi, đỗ Bảng Nhãn (sau Trạng Nguyên) khoa thi Đình năm Đinh Mùi (năm 1248).

Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan (trông coi việc Hình luật), rồi Hàn lâm Viện học sĩ, kiêm Quốc Sử Việt giám tu. Năm 1272, ông đã hoàn thành việc biên soạn “Đại Việt Sử ký”, bộ quốc sử đầu tiên của nước ta ghi lại những việc cốt yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ thời Triệu Đà (từ năm 136 trước Công nguyên đến thời Lý Chiêu Hoàng năm 1225), tất cả gồm 30 quyển và được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen).

3- Ngô Thì Nhậm
Ngô Thì Nhậm sinh năm 174 6 (Bính Dần ), là danh sĩ và là nhà văn đờiTây Sơn, tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, còn gọi là Ngô Thời Nhiệm, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh xâm lược năm 1789.

Ông xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, quê ở Thanh Oai, Hà Tây (nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội).

Thi đỗ giải Nguyên năm 1768, rồi Tiến sĩ Tam giáp năm 1775. Ngô Thì Nhậm được bổ nhiệm làm quan Bộ Hộ dưới triều Lê - Trịnh. Năm 1790, Vua Quang Trung mất, ông lui về nghiên cứu Phật học. Tác phẩm còn để lại: Hải Dương chí lược, Hy Doãn thi văn tập, Xuân Thu quản kiến...

4- Phan Huy Chú
Phan Huy Chú sinh năm 1782 (Nhâm Dần), là nhà thơ, nhà bác học thế kỷ XIX, tự là Lâm Khanh hiệu Mai Phong, sinh tại làng Thụy Khê, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông là con của Phan Huy ích, nổi tiếng hay chữ từ nhỏ, thi đỗ Tú tài năm 1821. Minh Mạng biết tiếng, triệu ông vào kinh làm biên tu ở Viện Hàn lâm.

Năm 1824, ông được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Năm 1828, làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên, Hiệp trấn Quảng Nam. Năm 1830, lại giữ chức Phó sứ sang nhà Thanh, trở về bị khiển trách vì tội lạm dụng quyền hành. Năm 1832, bị buộc sang Giang Lưu Ba (Indonesia).

Đời quan trường của Phan Huy Chú lúc thăng, lúc trầm, nên sinh chán nản, ông từ quan về làng dạy học, viết sách rồi mất vào năm 1840. Bộ sách Lịch triều Hiến chương loại chí, gồm 49 quyển sau 10 năm biên soạn là công trình biên khảo đồ sộ của ông. Ngoài ra, ông còn biên soạn các cuốn sách khác như: Hoàng Việt dư địa chí, Hoa thiều ngâm lục, và Hoa trình tục ngâm.

>>Những dấu ấn lịch sử tiêu biểu năm Dần ở Việt Nam

1- Năm Giáp Dần (714): Khởi nghĩa của nghĩa quân Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) thắng lợi, lật đổ chính quyền đô hộ nhà Đường, giải phóng đất nước.

2- Năm Bính Dần (906): Khúc Thừa Dụ đứng ra lãnh đạo nhân dân nổi lên đánh đuổi bọn đô hộ nhà Đường, chiếm thành Đại La, dựng quyền tự chủ cho đất nước. Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ. Ngày 11 tháng Giêng (tức 7/2/906), trước hành động quyết liệt của nhân dân Giao Châu, nhà Đường buộc phải phong chức “Đồng bình chương sự” cho Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ, thừa nhận người Việt cai quản đất Việt, chấm dứt về cơ bản thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm.

3- Năm Nhâm Dần (1002): Vua Lê Đại Hành thực hiện hàng loạt các biện pháp nhằm chấn chỉnh và cải cách chính trị - hành chính như ban hành pháp luật, đổi tên đơn vị hành chính lãnh thổ, chia tướng hiệu làm 2 ban (văn-võ), tổ chức và trang bị lại cho quân đội...

4- Năm Mậu Dần (1038): Vua Lý Thái Tôn đích thân ra cày ruộng (cày tịch điền) ở cửa Bố Hải để làm gương cho dân chúng. Tục lệ đẹp này được các triều đại sau đó duy trì và phát huy.

5- Năm Mậu Dần (1158): Nguyễn Quốc khuyên vua Lý Anh Tôn nên đặt hòm kính ở triều đình để ai có điều gì cần tâu trình, đề nghị, khiếu tố... thì viết giấy bỏ vào. Vua nghe theo và chỉ trong vòng một tháng, đơn, thư, sớ đã đầy hòm. Đây là phương thức tiếp nhận ý kiến nhân dân rất hiệu quả, tiện lợi và tiến bộ.

6- Năm Canh Dần (1230): Nhà Trần ban hành các bộ sách đồ sộ quy định cách thức tổ chức, hoạt động của chính quyền. Cũng năm này, mức hình phạt trong luật sửa đổi và kinh thành Thăng Long được đại tu về mọi mặt.

7- Năm Nhâm Dần (1242): Nhà Trần tiến hành cải cách hành chính địa phương với quy mô lớn: chia lại đơn vị hành chính lãnh thổ, tổ chức lại hệ thống quan lại địa phương, làm sổ hộ khẩu, phân loại dân đinh, ấn định cặn kẽ mức tô thuế...

8- Năm Giáp Dần (1374): Bắt đầu tổ chức thi Đình cho các tiến sĩ, lấy đỗ trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, hoàng giáp, cập đề, đồng cập đề, gồm 50 người (lệ cũ: thi thái học sinh 7 năm một lần, lấy đỗ 30 người). Cũng năm này, nhà Trần áp dụng nhiều biện pháp để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc như cấm nhân dân mặc áo kiểu người phương Bắc, cấm bắt chước tiếng nói các nước Chiêm, Lào...

9- Năm Mậu Dần (1398): Tể tướng Hồ Quý Ly tiến hành cải cách ruộng đất toàn diện.

10- Năm Bính Dần (1506): Nhà Lê tổ chức cuộc thi quân dân rất lớn ở sân điện Giảng Võ với 2 môn: viết và toán. Hơn 3 vạn người dự thi, lấy đỗ 1519 người.

11- Năm Giáp Dần (1614): Chữ quốc ngữ Việt Nam (do các giáo sĩ Bồ Đào Nha sáng tạo ra) bắt đầu hình thành và phát triển.

12- Năm Canh Dần (1650): Lái buôn các tàu thuyền Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Hà Lan và Nhật Bản khi tới Kẻ Chợ (Hà Nội) được phép lưu trú tại làng Thanh Trì, Khuyến Lương (ngoại thành Hà Nội). Quan hệ ngoại thương của nước ta bắt đầu phát triển mạnh.

13- Năm Mậu Dần (1698): Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền Nam, quyết định lập phủ Gia Định để quản lý 2 huyện Phước Long (Biên Hòa) và Tân Bình (Sài Gòn, từ sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ Đông). Sài Gòn coi như được thành lập từ đó.

14- Năm Nhâm Dần (1782): Khởi nghĩa Tây Sơn do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nhân dân tấn công mãnh liệt vào cả chính quyền chúa Nguyễn ở miền Nam lẫn chính quyền Lê - Trịnh ở miền Bắc, giành thế chủ động trên khắp đất nước. Chúa Nguyễn Ánh đại bại, phải chạy trốn và cầu viện nước ngoài.

15- Năm Bính Dần 1806: Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế (Gia Long), trở thành vị vua đầu tiên của triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

16- Năm Canh Dần (1830): Nhà Nguyễn cử nhiều đoàn sứ thần đến các nước trên thế giới để thiết lập và phát triển quan hệ ngoại giao.

17- Năm Bính Dần (1866): Nghĩa quân Trương Quyền liên kết với nghĩa quân Pokum Pao chống Pháp xâm lược, làm nên nhiều chiến thắng vang dội ở Việt Nam và Campuchia.

18- Năm Canh Dần (1950): Chiến dịch Biên giới thắng lợi, quân ta giải phóng dải biên cương Việt - Trung dài 750 km, phá tan hành lang chiến lược và thế bao vây của thực dân Pháp.
---//---

29/01/2022
01/10/2021

After implementing first-in-the-nation school masking and staff vaccination measures, California becomes the first state to announce plans to require student vaccinations – adding the COVID-19 vaccine…

Address

10612 W Garden Grove Boulevard
Sài Gòn
92843

Telephone

+15672282222

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Imtadus posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Imtadus:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram