Bé Yêu Bé Yêu

Bé Yêu Bé Yêu Trang thông tin chia sẻ những thông tin hữu ích về chế độ dinh dưỡng, tiêm chủ

NHỮNG CỘT MỐC QUAN TRỌNG ĐỂ THEO DÕI CON TRẺ TRONG 12 THÁNG ĐẦU12 tháng đầu đời của trẻ luôn đi cùng những sự thay đổi đ...
25/09/2019

NHỮNG CỘT MỐC QUAN TRỌNG ĐỂ THEO DÕI CON TRẺ TRONG 12 THÁNG ĐẦU

12 tháng đầu đời của trẻ luôn đi cùng những sự thay đổi đến chóng mặt, đôi khi khiến ba mẹ phải bối rối vì không biết con đang ở giai đoạn nào, hoặc đau đầu vì những câu hỏi sao con chưa biết bò, sau con chưa biết đi... Hãy cùng xem bộ ảnh dưới đây để nắm được quá trình phát triển cơ bản của em bé nhé. Tất cả thông tin đều dừng lại ở mục đích tham khảo, bởi mỗi em bé, tùy vào khả năng, môi trường sống và rất nhiều yếu tố khác nhau, các kỹ năng của bé cũng sẽ phát triển theo những giai đoạn khác nhau. Bố mẹ hãy luôn dõi theo quá trình khôn lớn của trẻ để có thể giáo dục và định hướng cho con thật tốt nhé!

Nguồn: BV Nhi Đồng

🆕️ TỪ 1/7, CHỒNG ĐƯỢC TĂNG TRỢ CẤP VÀ NGHỈ THAI SẢN NHƯ THẾ NÀO KHI VỢ SINH CONCụ thể, khi vợ sinh con, người chồng cũng...
02/07/2019

🆕️ TỪ 1/7, CHỒNG ĐƯỢC TĂNG TRỢ CẤP VÀ NGHỈ THAI SẢN NHƯ THẾ NÀO KHI VỢ SINH CON
Cụ thể, khi vợ sinh con, người chồng cũng sẽ được hưởng các chế độ thai sản tương đương như: Hưởng trợ cấp một lần khi sinh con với mức trợ cấp 2.980.000 đồng. Điều kiện là người chồng phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi vợ sinh con.

Khi vợ sinh con, nam giới cũng được nghỉ làm trong các trường hợp sau:

Đối với lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con thì trong vòng 30 ngày đầu kể từ ngày sinh được nghỉ 5 ngày làm việc nếu vợ sinh thường; 7 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi; 10 ngày làm việc trong trường hợp vợ sinh đôi, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 3 ngày làm việc; 14 ngày làm việc trong trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật.

Đối với trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ mất sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền thì cha sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi.

Đối với trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ mất sau khi sinh con thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ.

Đối với trường hợp mẹ tham gia BHXH nhưng không đủ điều kiện thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi.

Bao nhiêu bậc phụ huynh đã nhìn thấy chính mình trong những bức ảnh này?Nguồn: sưu tầm
13/06/2019

Bao nhiêu bậc phụ huynh đã nhìn thấy chính mình trong những bức ảnh này?
Nguồn: sưu tầm

30 ngày học tiếng anh cùng con. Ba mẹ hãy là người bạn đồng hành của con nhé 😍😍😍.
12/06/2019

30 ngày học tiếng anh cùng con.
Ba mẹ hãy là người bạn đồng hành của con nhé 😍😍😍.

Thỉnh thoảng gặp được bệnh nhân vui tính như này chắc bs nhanh được đổi nghề lắm 🤣🤣🤣Nguồn: meddy bear
18/05/2019

Thỉnh thoảng gặp được bệnh nhân vui tính như này chắc bs nhanh được đổi nghề lắm 🤣🤣🤣
Nguồn: meddy bear

MEN VI SINH VÀ MEN TIÊU HÓA GIỐNG HAY KHÁC NHAU ?1. Cùng hỗ trợ điều trị rối loạn tiêu hóa của trẻ, vậy men vi sinh và m...
11/05/2019

MEN VI SINH VÀ MEN TIÊU HÓA GIỐNG HAY KHÁC NHAU ?

1. Cùng hỗ trợ điều trị rối loạn tiêu hóa của trẻ, vậy men vi sinh và men tiêu hóa khác nhau thế nào, vai trò cụ thể của hai loại men này là gì?

- Men vi sinh là các chế phẩm chứa các vi sinh vật có ích, khi uống vào nhằm cải thiện sự cân bằng của hệ vi khuẩn ruột và có lợi ích cho sức khỏe người dùng.

Trong ruột già của một người khỏe mạnh có những loại vi khuẩn thường trú ở đây, ngoài vi khuẩn gây bệnh còn có vi khuẩn có ích. Các vi khuẩn có ích giúp tiêu hóa tốt thức ăn, tạo hệ sinh thái cân bằng trong đường ruột và bảo vệ ruột già.
Việc bổ sung các men vi sinh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đường ruột là cần thiết, đặc biệt sau một đợt trẻ bị rối loạn tiêu hóa.

- Men tiêu hóa ở đây hoàn toàn khác với men vi sinh, vì chúng không phải là các vi khuẩn sinh học đông khô mà là các hợp chất hóa học thực thụ.

Men tiêu hóa là men hay còn gọi là enzym do chính các tuyến trong cơ thể tiết ra để tiêu hóa và hấp thu thức ăn. Thường thì các enzym của dạ dày, nước bọt và của tụy được bào chế để bổ sung hỗ trợ tiêu hóa.

2. Hậu quả khi bố mẹ lạm dụng chế phẩm hỗ trợ tiêu hóa cho trẻ nhỏ.

Việc nhầm lẫn giữa hai loại men trên, hoặc không biết mình đang cho con dùng loại gì sẽ khiến cho tình trạng tiêu hóa của trẻ không được cải thiện, thậm chí ngày càng tồi tệ hơn.Khi dùng men trong một thời gian dài mà tình trạng biếng ăn không được cải thiện, thậm chí con còn bị tiêu chảy cấp, mệt mỏi, suy nhược.Cơ thể “lười biếng” không sản sinh ra men tiêu hóa, lâu dần sẽ giảm công suất và trở nên đình đốn. Lúc này, cơ thể bé sẽ phải phụ thuộc suốt đời vào men tiêu hóa được đưa vào. Thời gian sử dụng men tiêu hóa mỗi đợt không nên quá 10-15 ngày.

3. Vậy trong trường hợp nào ta nên dùng men tiêu hóa, men vi sinh cho trẻ?

3.1 Với men tiêu hóa
3.1.2 Nên khi:
- Trong một số trường hợp cụ thể, em bé biếng ăn kèm theo suy dinh dưỡng, đi ngoài phân sống...thì chúng ta có thể dùng men tiêu hóa.
- Các trường hợp giảm tiết dịch men tiêu hóa, bệnh nhân bị chứng thiểu toan, giảm toan trong dạ dày, bệnh nhân bị viêm dạ dày thể teo đét... dùng men tiêu hóa thực sự hữu dụng.
- Trường hợp hay bị rối loạn tiêu hóa, bụng ậm ạch, ăn lâu tiêu, một chút men tiêu hóa có thể sẽ có lợi.
- Người mới ốm dậy, người thể lực yếu trong những ngày đầu tiên, nên dùng men tiêu hóa để việc tiêu hóa được bình thường, giúp cơ thể hồi phục nhanh.

3.1.2 Không nên khi:
- Với những trẻ bình thường có biểu hiện chán ăn không nên dùng men tiêu hóa dưới dạng thuốc vì ít có tác dụng. Trường hợp cần dùng phải tuân theo sự chỉ định của thầy thuốc.
- Trẻ dưới 6 tháng tuổi không nên uống men tiêu hóa vì ở độ tuổi này hệ tiêu hóa của trẻ chưa ổn định
- Không được dùng liên tục, kéo dài, thời gian dùng chỉ tối đa là 2 tuần
- Không nên dùng trước bữa ăn, cũng không nên dùng sau khi ăn chừng 2 tiếng đồng hồ. Tốt nhất dùng cùng bữa ăn hoặc ngay sau ăn.
- Trường hợp bị sống phân hoặc bị tiêu chảy có đau bụng kèm theo, trường hợp đại tiện phân có máu hoặc nôn ra máu, bị rối loạn tiêu hóa do nhiễm độc các hợp chất hóa học hoặc bị bỏng axit cũng tuyệt đối tránh xa sản phẩm này.

3.2 Với men vi sinh
3.2.1 Nên sử dụng men vi sinh khi:
- Men vi sinh được chỉ định dùng sau khi sự cân bằng trong hệ tạp khuẩn ruột bị đảo lộn dẫn đến rối loạn tạp khuẩn (thường gặp ở người bệnh vừa điều trị kháng sinh), với biểu hiện đi ngoài phân sống, tiêu chảy, khó tiêu, trướng bụng, rối loạn tiêu hóa... Men vi sinh có thể dùng dài ngày.
- Muốn tăng khả năng hấp thu vitamin của đường ruột; tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể; ngăn ngừa và giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ, bệnh tiêu chảy do nhiễm vi khuẩn,...
- Dùng trực tiếp hoặc pha với nước đun sôi để nguội để uống.
- Nên uống men vi sinh sau khi uống kháng sinh khoảng 2 tiếng, tránh việc vi khuẩn có lợi vô tình bị kháng sinh tiêu diệt nếu dùng 2 thuốc và men vi sinh sát giờ nhau.

3.2.2 Không nên sử dụng men vi sinh khi:
- Không nên pha men vi sinh vào nước, cháo hay sữa còn nóng bởi nhiệt độ cao sẽ làm giảm hoạt lực của men vi sinh.
- Không pha men vi sinh buổi sáng uống buổi chiều, vì như thế vi sinh bị chết sẽ không có tác dụng.

Điều trị mấy bệnh do nấm và dòng họ nhà nấm thì cứ phải xác định trường kì kháng chiến các cậu ạ.
04/04/2019

Điều trị mấy bệnh do nấm và dòng họ nhà nấm thì cứ phải xác định trường kì kháng chiến các cậu ạ.

Viêm tai giữa và thính lực.
04/04/2019

Viêm tai giữa và thính lực.

Với tình trạng tỉ lệ kháng kháng sinh ngày càng tăng như hiện nay thì chiến lược dùng kháng sinh trong điều trị như thế ...
01/04/2019

Với tình trạng tỉ lệ kháng kháng sinh ngày càng tăng như hiện nay thì chiến lược dùng kháng sinh trong điều trị như thế nào?

NHỮNG THAY ĐỔI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ KHI MANG THAI Thay đổi sinh lý và giải phẫu ngoài bộ phận sinh dụcThay đổi ở vú:Tuyế...
10/03/2019

NHỮNG THAY ĐỔI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ KHI MANG THAI

Thay đổi sinh lý và giải phẫu ngoài bộ phận sinh dục
Thay đổi ở vú:

Tuyến sữa và ống dẫn sữa phát triển làm vú to và căng lên gây đau khi chạm vào. Người phụ nữ có cảm giác cương vú. Tuần hoàn tăng, tĩnh mạch phồng, núm vú to, quầng vú sẫm mầu, nụ Montgomery quanh quầng vú nổi to. Có thể ra sữa loãng khi nặn mạnh nhất là vào những tháng cuối. Sau sanh lại có những giọt sữa đầu tiên chảy ra gọi là sữa non rất bổ dưỡng cho trẻ sơ sinh.

Thay đổi ở hệ thống xương:

Các khớp xương trở nên mềm và dãn, nhất là ở những khớp của khung chậu như khớp vệ, khớp cùng - cụt làm tăng độ rộng giúp cho cuộc đẻ được dễ dàng hơn. Tuy nhiên, sự dãn nở khớp chỉ có mức độ nên những trường hợp khung chậu hẹp, thai to thì cũng vẫn không thể sanh ngã âm đạo mà phải mổ lấy thai. Đặc biệt sự biến đổi khác nhau về các thớ sợi của bao khớp, và các dây chằng khớp, làm cho sự dãn khớp tăng lên, nhất là khớp vệ gây đau khi di chuyển.

Thay đổi ở da:

Da có thể có những vết nám, nhất là ở mặt, hai bên gò má gọi là “mặt nạ thai kỳ”, khiến mặt người mẹ có thai có một vẻ đặc biệt. Da trở nên sẫm màu hơn ở các vị trí như núm vú, quầng vú, đường trắng giữa bụng, âm hộ. Thành bụng giãn nở đột ngột nên bị rạn nứt. Vết rạn nứt da màu đỏ hồng trên bụng càng nhiều khi thai càng lớn. Nếu thai phụ mập và có tăng trọng nhiều trong thai kỳ thì có thể có vết nứt ở cánh tay, mông và đùi. Rốn trở nên phẳng vì tử cung to lên khỏi rốn. Ở người con so, các vết rạn nứt có màu đỏ sẫm do các sắc tố sắt bị đọng lại. Sau khi đẻ, các vết rạn không mất đi nhưng nhạt màu dần, để lại màu trắng xà cừ.

Thay đổi ở hệ tuần hoàn:

Khi có thai, khối lượng máu tăng lên khoảng 1500 ml, có khi tăng gấp rưỡi so với lúc bình thường, nghĩa là có thể tăng lên đến 6 lít máu nhưng tăng nhiều về mặt huyết tương hơn là huyết cầu. Do đó số lượng hồng cầu trong máu hơi giảm, tỷ lệ huyết sắc tố giảm, tốc độ huyết trầm giảm. Sự gia tăng này giúp cho lưu lượng máu trong tuần hoàn tử cung - nhau được nâng cao. Khi tử cung ngày càng lớn theo tuổi thai, cơ hoành bị đẩy lên cao, tư thế của tim cũng thay đổi. Cung lượng tim cũng tăng lên 50%, nhịp tim cũng tăng lên, tăng cao nhất vào tháng thứ 7, sau đó giảm dần cho tới khi đẻ. Vì thế, đối với người có bệnh tim sẵn thì đến thời điểm này sẽ dễ suy tim và có khi phải chấm dứt thai kỳ sớm. Huyết áp tăng dần, nhưng vẫn trong giới hạn bình thường. Nếu huyết áp trên 140/90 mmHg là bệnh lý có thể dẫn đến tiền sản giật và sản giật.

Vì tử cung to đè vào tĩnh mạch chủ dưới và các tĩnh mạch tiểu khung làm ứ huyết chi dưới, gây cản trở lưu thông của máu dẫn đến phù chân. Tại trực tràng, có phồng tĩnh mạch và vì kèm thêm táo bón nên sản phụ hay bị trĩ. Nếu thai phụ nằm ngửa tử cung to đè lên các mạch máu lớn ở phía sau sẽ có thể làm huyết áp tụt. Vì vậy, tư thế nằm tốt nhất là nằm nghiêng để tránh bị choáng.

Thay đổi về hô hấp:

Vào những tháng cuối, tử cung to, đẩy cơ hoành lên phía trên, người phụ nữ thở nông và nhanh. Ở những người có tử cung quá to như trong trường hợp thai to, song thai, đa ối, thường hay có khó thở, thở nhanh. Khi ăn no, thai phụ không thể nằm như bình thường mà phải nằm đầu cao để dễ thở.

Thay đổi về tiêu hoá:

Trong ba tháng đầu, thai phụ hay bị nôn, buồn nôn, thích ăn thức ăn lạ, thường được gọi là triệu chứng nghén. Có lẽ là do những rối loạn về nội tiết gây ra. Từ tháng thứ 4 trở đi, những triệu chứng trên biến mất, thai phụ ăn uống trở lại bình thường và sức ăn tăng lên so với trước khi có thai. Đai tiện thường bị táo bón do nhu động ruột bị giảm và đại tràng bị chèn ép. Vì nhu cầu ăn tăng nên những người đã mập sẵn dễ phát sinh béo phì, đái tháo đường thai kỳ. Do đó, nếu đối với người bình thường, sự tăng trọng lượng cho suốt thai kỳ trung bình là 12-14kg thì những người mập sẵn chỉ cần tăng từ 7-8kg là vừa. Trong 3 tháng đầu tăng không quá 1, 5 kg thậm chí sụt cân do ói mửa, không ăn uống được. Trong 3 tháng giữa trung bình mỗi tuần tăng 0, 5 kg, tổng cộng khoảng 6 kg. Trong 3 tháng cuối tăng 4 - 5 kg. Đặc biệt phải theo dõi cân nặng trong 3 tháng giữa. Nếu tăng đột ngột trong giai đoạn này phải nghi nhiễm độc thai nghén.
Thay đổi về tiết niệu:

Niệu quản bị dãn dưới ảnh hưởng của nội tiết tố thai kỳ nên thường giảm nhu động, dài và cong queo, do đó dẫn lưu nước tiểu kém, nhất là khi tử cung phát triển to chèn ép vào niệu quản. Tình trạng ứ nước tiểu ở bể thận khiến dễ dẫn đến viêm thận và bể thận do ứ nước tiểu, nhất là khi thai phụ bón thì càng dễ nhiễm trùng đường tiểu. Lượng nước tiểu đào thải tăng tùy người. Nếu phù nhiều, tiểu ít thì có thể là tình trạng bệnh lý. Cần phải đi khám bác sĩ ngay dù chưa đến ngày hẹn.

Thay đổi về thần kinh, tâm lý:

Trong khi có thai dễ có những thay đổi về tâm lý, cảm xúc. Người phụ nữ hay cáu gắt, trí nhớ bị giảm sút. Thân nhiệt thường trên 37oC, cơ thể thai phụ nóng hơn khi không có thai. Ngoài ra còn những thay đổi về hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Những triệu chứng kém ăn, mất ngủ, buồn nôn, trong những tháng đầu có thể phần nào do những thay đổi về thần kinh gây ra, điều này có liên quan mật thiết với những thay đổi nội tiết. Thai phụ dễ mắc bệnh trầm cảm nếu hoàn cảnh gia đình có nhiều mâu thuẫn. Vì vậy, người chồng cần hiểu biết về vấn đề này để tạo không khí vui tươi trong nhà, giúp người vợ luôn vui vẻ, lạc quan. Cảm xúc này gián tiếp giúp thai nhi phát triển tốt, thông minh khỏe mạnh sau này.

Thay đổi Huyết học:

Về phương diện sinh lý, những thay đổi toàn thân đều xuất phát từ hiện tượng giữ nước trong cơ thể thai phụ. Kết quả là làm tăng khối lượng máu nên dẫn đến loãng máu, tăng giữ nước ngoài tế bào gây ra phù. Về vấn đề biến dưỡng thì có sự tăng chuyển hoá và thay đổi một số hằng số sinh lýcủa máu như:

* Hồng cầu thường dưới 4. 000. 000 trong 1 mm3.

* Bạch cầu từ 8. 000 đến 16. 000. Công thức bạch cầu bình thường.

* Tiểu cầu tăng từ 300. 000 đến 400. 000.

* Protid từ 60 đến 70 g/lit.

* Canxi và sắt trong huyết thanh giảm.

* pH huyết hơi cao = 7, 6.

* Ngoài ra ure huyết, iôn-đồ và glucoza huyết thanh không đổi.

Tất cả những thay đổi của người mẹ diễn ra từ từ theo sự phát triển của thai kỳ mà không xuất hiện ngay và cùng một lúc nên người mẹ cần được theo dõi chăm sóc theo lịch khám thai đã được qui định ở các cơ sở y tế.

Thay đổi sức đề kháng, miễn dịch

Khi mang thai, sức đề kháng của cơ thể người phụ nữ thường giảm sút. Vì thế, họ rất dễ bị lây nhiễm bệnh. Khi đã mắc bệnh thì bệnh thường nặng hơn những người không có thai. Đặc biệt là khi mẹ bị mắc một số bệnh gây ra do vi khuẩn, virus trong những tháng đầu cuả thai kỳ thì có thể bị sẩy thai hoặc thai bị nhiễm bệnh vì vi khuẩn, virus đó có thể đi qua bánh nhau vào máu và gây ra những dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Một trong những bệnh thai phụ hay mắc phải là bệnh cúm… Cúm là một loại bệnh rất hay lây gây ra do các loại virus nhóm A, B và C. Bệnh có thể xảy ra ở người và loài vật. Cần tăng cường sức đề kháng cuả thai phụ bằng chế độ ăn uống nhiều muối khoáng và vitamin (có trong trái cây, rau quả). Khi có thai, thai phụ nên tránh những nơi đông người, tránh tiếp xúc với người bệnh để không bị lây bệnh.

Bên cạnh loại bệnh Cúm kể trên, thai phụ còn có thể nhiễm một loại Virus cho triệu chứng khá giống như Cúm nên dễ bị lầm là cảm cúm, đó là bệnh Rubella. Người bệnh có thể thấy nổi hạch và nổi ban khắp người. Bệnh ban đỏ do Rubella thường gây mù, điếc, còn tồn tại ống động mạch cho trẻ sơ sinh. Do ảnh hưởng tai hại trên thai nhi, hiện nay đã có thuốc chủng ngừa Rubella cho các bé gái để tạo sự miễn dịch trước khi chúng bước vào tuổi có khả năng sinh đẻ.

Lại sắp tới mùa r các cậu ơi.
28/02/2019

Lại sắp tới mùa r các cậu ơi.

Address

Đoan Bái, Hiệp Hòa, Bắc Giang
Bac Giang
220000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bé Yêu Bé Yêu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Bé Yêu Bé Yêu:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram