10/03/2019
NHỮNG THAY ĐỔI GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ KHI MANG THAI
Thay đổi sinh lý và giải phẫu ngoài bộ phận sinh dục
Thay đổi ở vú:
Tuyến sữa và ống dẫn sữa phát triển làm vú to và căng lên gây đau khi chạm vào. Người phụ nữ có cảm giác cương vú. Tuần hoàn tăng, tĩnh mạch phồng, núm vú to, quầng vú sẫm mầu, nụ Montgomery quanh quầng vú nổi to. Có thể ra sữa loãng khi nặn mạnh nhất là vào những tháng cuối. Sau sanh lại có những giọt sữa đầu tiên chảy ra gọi là sữa non rất bổ dưỡng cho trẻ sơ sinh.
Thay đổi ở hệ thống xương:
Các khớp xương trở nên mềm và dãn, nhất là ở những khớp của khung chậu như khớp vệ, khớp cùng - cụt làm tăng độ rộng giúp cho cuộc đẻ được dễ dàng hơn. Tuy nhiên, sự dãn nở khớp chỉ có mức độ nên những trường hợp khung chậu hẹp, thai to thì cũng vẫn không thể sanh ngã âm đạo mà phải mổ lấy thai. Đặc biệt sự biến đổi khác nhau về các thớ sợi của bao khớp, và các dây chằng khớp, làm cho sự dãn khớp tăng lên, nhất là khớp vệ gây đau khi di chuyển.
Thay đổi ở da:
Da có thể có những vết nám, nhất là ở mặt, hai bên gò má gọi là “mặt nạ thai kỳ”, khiến mặt người mẹ có thai có một vẻ đặc biệt. Da trở nên sẫm màu hơn ở các vị trí như núm vú, quầng vú, đường trắng giữa bụng, âm hộ. Thành bụng giãn nở đột ngột nên bị rạn nứt. Vết rạn nứt da màu đỏ hồng trên bụng càng nhiều khi thai càng lớn. Nếu thai phụ mập và có tăng trọng nhiều trong thai kỳ thì có thể có vết nứt ở cánh tay, mông và đùi. Rốn trở nên phẳng vì tử cung to lên khỏi rốn. Ở người con so, các vết rạn nứt có màu đỏ sẫm do các sắc tố sắt bị đọng lại. Sau khi đẻ, các vết rạn không mất đi nhưng nhạt màu dần, để lại màu trắng xà cừ.
Thay đổi ở hệ tuần hoàn:
Khi có thai, khối lượng máu tăng lên khoảng 1500 ml, có khi tăng gấp rưỡi so với lúc bình thường, nghĩa là có thể tăng lên đến 6 lít máu nhưng tăng nhiều về mặt huyết tương hơn là huyết cầu. Do đó số lượng hồng cầu trong máu hơi giảm, tỷ lệ huyết sắc tố giảm, tốc độ huyết trầm giảm. Sự gia tăng này giúp cho lưu lượng máu trong tuần hoàn tử cung - nhau được nâng cao. Khi tử cung ngày càng lớn theo tuổi thai, cơ hoành bị đẩy lên cao, tư thế của tim cũng thay đổi. Cung lượng tim cũng tăng lên 50%, nhịp tim cũng tăng lên, tăng cao nhất vào tháng thứ 7, sau đó giảm dần cho tới khi đẻ. Vì thế, đối với người có bệnh tim sẵn thì đến thời điểm này sẽ dễ suy tim và có khi phải chấm dứt thai kỳ sớm. Huyết áp tăng dần, nhưng vẫn trong giới hạn bình thường. Nếu huyết áp trên 140/90 mmHg là bệnh lý có thể dẫn đến tiền sản giật và sản giật.
Vì tử cung to đè vào tĩnh mạch chủ dưới và các tĩnh mạch tiểu khung làm ứ huyết chi dưới, gây cản trở lưu thông của máu dẫn đến phù chân. Tại trực tràng, có phồng tĩnh mạch và vì kèm thêm táo bón nên sản phụ hay bị trĩ. Nếu thai phụ nằm ngửa tử cung to đè lên các mạch máu lớn ở phía sau sẽ có thể làm huyết áp tụt. Vì vậy, tư thế nằm tốt nhất là nằm nghiêng để tránh bị choáng.
Thay đổi về hô hấp:
Vào những tháng cuối, tử cung to, đẩy cơ hoành lên phía trên, người phụ nữ thở nông và nhanh. Ở những người có tử cung quá to như trong trường hợp thai to, song thai, đa ối, thường hay có khó thở, thở nhanh. Khi ăn no, thai phụ không thể nằm như bình thường mà phải nằm đầu cao để dễ thở.
Thay đổi về tiêu hoá:
Trong ba tháng đầu, thai phụ hay bị nôn, buồn nôn, thích ăn thức ăn lạ, thường được gọi là triệu chứng nghén. Có lẽ là do những rối loạn về nội tiết gây ra. Từ tháng thứ 4 trở đi, những triệu chứng trên biến mất, thai phụ ăn uống trở lại bình thường và sức ăn tăng lên so với trước khi có thai. Đai tiện thường bị táo bón do nhu động ruột bị giảm và đại tràng bị chèn ép. Vì nhu cầu ăn tăng nên những người đã mập sẵn dễ phát sinh béo phì, đái tháo đường thai kỳ. Do đó, nếu đối với người bình thường, sự tăng trọng lượng cho suốt thai kỳ trung bình là 12-14kg thì những người mập sẵn chỉ cần tăng từ 7-8kg là vừa. Trong 3 tháng đầu tăng không quá 1, 5 kg thậm chí sụt cân do ói mửa, không ăn uống được. Trong 3 tháng giữa trung bình mỗi tuần tăng 0, 5 kg, tổng cộng khoảng 6 kg. Trong 3 tháng cuối tăng 4 - 5 kg. Đặc biệt phải theo dõi cân nặng trong 3 tháng giữa. Nếu tăng đột ngột trong giai đoạn này phải nghi nhiễm độc thai nghén.
Thay đổi về tiết niệu:
Niệu quản bị dãn dưới ảnh hưởng của nội tiết tố thai kỳ nên thường giảm nhu động, dài và cong queo, do đó dẫn lưu nước tiểu kém, nhất là khi tử cung phát triển to chèn ép vào niệu quản. Tình trạng ứ nước tiểu ở bể thận khiến dễ dẫn đến viêm thận và bể thận do ứ nước tiểu, nhất là khi thai phụ bón thì càng dễ nhiễm trùng đường tiểu. Lượng nước tiểu đào thải tăng tùy người. Nếu phù nhiều, tiểu ít thì có thể là tình trạng bệnh lý. Cần phải đi khám bác sĩ ngay dù chưa đến ngày hẹn.
Thay đổi về thần kinh, tâm lý:
Trong khi có thai dễ có những thay đổi về tâm lý, cảm xúc. Người phụ nữ hay cáu gắt, trí nhớ bị giảm sút. Thân nhiệt thường trên 37oC, cơ thể thai phụ nóng hơn khi không có thai. Ngoài ra còn những thay đổi về hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Những triệu chứng kém ăn, mất ngủ, buồn nôn, trong những tháng đầu có thể phần nào do những thay đổi về thần kinh gây ra, điều này có liên quan mật thiết với những thay đổi nội tiết. Thai phụ dễ mắc bệnh trầm cảm nếu hoàn cảnh gia đình có nhiều mâu thuẫn. Vì vậy, người chồng cần hiểu biết về vấn đề này để tạo không khí vui tươi trong nhà, giúp người vợ luôn vui vẻ, lạc quan. Cảm xúc này gián tiếp giúp thai nhi phát triển tốt, thông minh khỏe mạnh sau này.
Thay đổi Huyết học:
Về phương diện sinh lý, những thay đổi toàn thân đều xuất phát từ hiện tượng giữ nước trong cơ thể thai phụ. Kết quả là làm tăng khối lượng máu nên dẫn đến loãng máu, tăng giữ nước ngoài tế bào gây ra phù. Về vấn đề biến dưỡng thì có sự tăng chuyển hoá và thay đổi một số hằng số sinh lýcủa máu như:
* Hồng cầu thường dưới 4. 000. 000 trong 1 mm3.
* Bạch cầu từ 8. 000 đến 16. 000. Công thức bạch cầu bình thường.
* Tiểu cầu tăng từ 300. 000 đến 400. 000.
* Protid từ 60 đến 70 g/lit.
* Canxi và sắt trong huyết thanh giảm.
* pH huyết hơi cao = 7, 6.
* Ngoài ra ure huyết, iôn-đồ và glucoza huyết thanh không đổi.
Tất cả những thay đổi của người mẹ diễn ra từ từ theo sự phát triển của thai kỳ mà không xuất hiện ngay và cùng một lúc nên người mẹ cần được theo dõi chăm sóc theo lịch khám thai đã được qui định ở các cơ sở y tế.
Thay đổi sức đề kháng, miễn dịch
Khi mang thai, sức đề kháng của cơ thể người phụ nữ thường giảm sút. Vì thế, họ rất dễ bị lây nhiễm bệnh. Khi đã mắc bệnh thì bệnh thường nặng hơn những người không có thai. Đặc biệt là khi mẹ bị mắc một số bệnh gây ra do vi khuẩn, virus trong những tháng đầu cuả thai kỳ thì có thể bị sẩy thai hoặc thai bị nhiễm bệnh vì vi khuẩn, virus đó có thể đi qua bánh nhau vào máu và gây ra những dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Một trong những bệnh thai phụ hay mắc phải là bệnh cúm… Cúm là một loại bệnh rất hay lây gây ra do các loại virus nhóm A, B và C. Bệnh có thể xảy ra ở người và loài vật. Cần tăng cường sức đề kháng cuả thai phụ bằng chế độ ăn uống nhiều muối khoáng và vitamin (có trong trái cây, rau quả). Khi có thai, thai phụ nên tránh những nơi đông người, tránh tiếp xúc với người bệnh để không bị lây bệnh.
Bên cạnh loại bệnh Cúm kể trên, thai phụ còn có thể nhiễm một loại Virus cho triệu chứng khá giống như Cúm nên dễ bị lầm là cảm cúm, đó là bệnh Rubella. Người bệnh có thể thấy nổi hạch và nổi ban khắp người. Bệnh ban đỏ do Rubella thường gây mù, điếc, còn tồn tại ống động mạch cho trẻ sơ sinh. Do ảnh hưởng tai hại trên thai nhi, hiện nay đã có thuốc chủng ngừa Rubella cho các bé gái để tạo sự miễn dịch trước khi chúng bước vào tuổi có khả năng sinh đẻ.