25/01/2026
Vì sao rất nhiều chuyên gia tâm lý lại là những người đang mang trong mình rất nhiều vấn đề tâm lý chưa được hoá giải.
Thật ra điều này có thể thông cảm được, vì đã mang thân con người thì còn bất toàn. Tuy nhiên, bài viết này sẽ đưa ra một khía cạnh ít được chú ý đến.
Nhiều chuyên gia có thể giảng rất hay về quản trị cảm xúc, về kiểm soát cơn giận, về ranh giới cá nhân, về liệu pháp tâm lý trị liệu. Nhưng trong cuộc sống, không ít người vẫn chìm trong giận dữ, cay nghiệt, hơn thua, ghen tỵ, cô độc, bất an, hoặc những mâu thuẫn đầy xung đột. Họ có thể thuộc lòng những mô hình trị liệu hiện đại nhất, nhưng lại bất lực khi chính mình rơi vào khủng hoảng hiện sinh, khi bị phản bội, khi bị bỏ rơi, khi cảm thấy đời mình vô nghĩa.
Tôi đã gặp không ít trường hợp như vậy.
Có những nhà trị liệu rất giỏi phân tích sang chấn ở trên mạng, nhưng lại không thể tự ôm ấp được nỗi đau thời thơ ấu của chính mình. Có những người giảng về “anger management” rất chuẩn mực, nhưng lại thường xuyên bùng nổ giận dữ với người thân, với đồng nghiệp, với học trò. Có những người nói rất hay về “self-compassion”, nhưng lại sống trong một nội tâm vô cùng khắc nghiệt với chính mình.
Và khi bước đủ sâu vào “hậu trường” của giới tâm lý học, có lẽ bạn sẽ thấy một bức tranh rất khác so với hình ảnh học thuật bóng bẩy bên ngoài. Đằng sau “tháp ngà” của học vị, không ít nơi là một không gian khá… loạn. Người ta không công nhận nhau. Người ta đố kỵ thành tựu của nhau. Người ta phản bác nhau không chỉ bằng học thuật, mà bằng động cơ cái tôi rất thô. Người ta lập phe nhóm trường phái. Người ta loại trừ những tiếng nói khác biệt. Người ta dùng quyền lực học thuật để dập tắt những hướng tiếp cận không thuộc “chính thống”.
Hãy lấy ví dụ một nhân vật rất nổi tiếng trong giới tâm lý đó là Freud. Nếu bạn có đủ kinh nghiệm tu tập và đủ chiều sâu nội tâm, bạn sẽ thấy rất rõ: Freud nói rất nhiều về giấc mơ, nhưng ông không thực sự hiểu gì về giải mã giấc mơ. Ông không hiểu giấc mơ như một kênh giao tiếp giữa ý thức và tầng trí tuệ sâu hơn của sự sống. Ông không hiểu biểu tượng giấc mơ như một ngôn ngữ của linh hồn. Ông diễn giải giấc mơ gần như hoàn toàn bằng xung năng dục tính và ức chế tâm lý. Vì thế những phần giải mã của ông thường không chính xác với Mã Nguồn.
Và tôi có thể nói điều đó không phải bằng lý thuyết. Là người đã trực tiếp hỗ trợ giải mã rất nhiều giấc mơ, và chứng kiến sự chuyển hoá mạnh mẽ của những con người sau khi họ hiểu được thông điệp thật sự ẩn trong giấc mơ của mình kết hợp với một quá trình theo dõi sự chuyển hoá bền vững qua nhiều năm của các trường hợp này, tôi biết rất rõ: Giấc mơ không chỉ là sản phẩm của não bộ. Giấc mơ là một ngôn ngữ biểu tượng của tầng tâm thức sâu hơn rất nhiều so với tâm trí lý tính.
Freud, và rất nhiều chuyên gia tâm lý sau này, không đi tới được tầng đó. Bởi vì họ không có kinh nghiệm và trải nghiệm tâm linh đủ sâu. Thậm chí, không ít người trong giới tâm lý học còn phản bác hoặc xem nhẹ tâm linh. Họ coi đó là mê tín, là ảo tưởng, là sản phẩm phụ của não bộ, là sự trốn tránh của những người yếu đuối.
Họ không biết rằng: Ông tổ của ngành tâm lý học hiện đại lại là một người rất… tâm linh.
William James - người được xem là cha đẻ của tâm lý học Hoa Kỳ - đã dành phần lớn đời mình nghiên cứu các trạng thái ý thức mở rộng, trải nghiệm tôn giáo, kinh nghiệm huyền nhiệm, hiện tượng siêu tâm lý. Cuốn The Varieties of Religious Experience của ông đến nay vẫn là một tác phẩm kinh điển về tâm linh học.
Carl Jung - người học trò của Freud - thì còn đi xa hơn nữa. Jung tin vào vô thức tập thể, vào biểu tượng nguyên mẫu, vào sự dẫn dắt của giấc mơ, vào đồng bộ tính (synchronicity). Ông tham gia các hội kín huyền học, nghiên cứu chiêm tinh, giả kim thuật, Kinh Dịch, thần thoại phương Đông. Ông lập ra cả một nhóm nghiên cứu rất… tâm linh xoay quanh việc giải mã biểu tượng và tiến trình cá nhân hoá linh hồn.
Những điều đó ngày nay thường bị giấu rất kỹ trong các giáo trình tâm lý học “chính thống”.
Và đây là điều cốt lõi mà chúng tôi muốn nói:
Tâm lý mà không có tâm linh thì vẫn như "người mù".
Bạn có thể rất giỏi sửa hành vi, điều chỉnh nhận thức, tái cấu trúc niềm tin. Nhưng bạn không chạm được vào tầng ý nghĩa sâu nhất của sự sống. Bạn không hiểu được vì sao tâm thức lại lựa chọn như vậy. Vì sao biến cố đó lại xảy ra đúng thời điểm đó. Vì sao một nỗi đau lại quay lại lặp đi lặp lại.
Ngược lại, tâm linh mà thiếu tâm lý thì lại thiếu đi sự chính thống.
Bạn rất dễ rơi vào ảo tưởng, thần bí hoá cái tôi, "bypass" cảm xúc, phủ nhận sang chấn, và dùng “ánh sáng tâm linh” để trốn tránh những phần tối chưa được chữa lành.
Cả hai không nên đối đầu nhau.
Cả hai sinh ra để bổ sung cho nhau.
Tâm lý học cho bạn bản đồ của tâm trí.
Tâm linh cho bạn chiều sâu của linh hồn.
Khi hai điều đó gặp nhau trong một con người đủ khiêm cung, đủ tỉnh thức và đủ trung thực với chính mình, lúc đó, trị liệu mới thực sự thành toàn.
Saga