14/03/2022
CÁC LOẠI SỎI THẬN NGƯỜI BỆNH CẦN BIẾT ???
Dựa vào thành phần của sỏi, sỏi thận được phân loại thành 6 loại thường gặp là sỏi canxi, oxalat, phosphat, acid uric, struvit, cystin. Mỗi loại có nguyên nhân và cơ chế hình thành khác nhau, qua đó mỗi loại cũng có những cách phòng chống tái phát sỏi khác nhau.
1. Sỏi calci
Sỏi canxi là loại thường gặp nhất trong các loại sỏi, chiếm tỷ lệ 80 – 90 % các trường hợp. Bình thường, sỏi canxi cứng, có nhiều hình dạng, kích thước, mật độ khác nhau.
Nguyên nhân chính là do tình trạng nước tiểu quá bão hòa về muối canxi do tăng hấp thu canxi ở ruột hoặc tăng tái hấp thu canxi ở ống thận. Những nguyên nhân làm tăng nồng độ canxi trong nước tiểu là:
- Cường tuyến giáp cận giáp.
- Gãy xương lớn và bất động lâu ngày.
- Dùng nhiều Vitamin D và Corticoid.
- Di căn của ung thư qua xương, gây phá hủy xương.
2. Sỏi oxalat
Đây là loại sỏi chiếm tỷ lệ cao ở các nước nhiệt đới như nước ta.
Khi nước tiểu bão hòa về oxalate, do ăn thức ăn chứa oxalate hoặc trong trường hợp ngộ độc vitamin C sẽ dẫn đến tình trạng này hoặc ở người bị viêm ruột, cắt một phần ruột non, ngoài ra có thể do di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường gây loạn dưỡng oxalat. Các phân tử này sẽ đi qua đường tiêu hóa và được bài tiết ra ngoài như một chất thải. Khi đi qua ruột, oxalate có thể kết hợp với canxi tạo thành hợp chất canxi oxalate và được bài tiết trong chất thải. Khi có quá nhiều oxalate trong thận thì có thể dẫn đến bệnh sỏi thận. Oxalat thường kết hợp với canxi để tạo thành sỏi oxalat calci. Những loại rau có hàm lượng oxalat cao bao gồm: cần tây, rau diếp, tỏi tây, củ cải, rau cải, khoai lang, đậu xanh, nho, mận, đậu tương, bí, ớt, cà tím, …
3. Sỏi phosphat
Loại sỏi phosphat thường gặp là loại amoni-magné-phosphat, chiếm khoảng 5-15% trường hợp. Loại sỏi này có kích thước to, hình san hô, cản quang, hình thành do nhiễm khuẩn, đặc biệt là do lọai vi khuẩn proteus.
Vi khuẩn protéus có men urease làm phân hủy ure thành amoniaque, do đó nước tiểu sẽ bị kiềm hóa, nếu pH nước tiểu trên 7,0 thì phosphat sẽ kết tủa.
4. Sỏi acid uric
Acid uric dễ tan trong môi trường kiềm và dễ kết tinh trong môi trường acid, khi pH nước tiểu dưới 6. Sự tăng nồng độ uric trong máu, ngoài việc lắng đọng ở các tổ chức sụn, túi nhầy, da cơ… thì nồng độ uric tại thận cũng tăng cao. Lắng đọng uric tại thận là nguyên nhân chính gây nên sỏi uric. Sỏi acid uric dễ xuất hiện khi chuyển hóa chất purine tăng trong cơ thể. Các nguyên nhân có thể làm tăng chuyển hoá purine:
- Sử dụng nhiều thức ăn có chứa nhiều chất purine như lòng heo, lòng bò, thịt cá khô, nấm.
- Bệnh gout.
- Phân hủy các khối ung thư khi dùng thuốc hóa trị liệu.
Khi Lượng Acid uric được bài tiết quá nhiều trong nước tiểu. Nước tiểu bị cô đặc sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hình thành sỏi.
5. Sỏi struvit
Nguồn gốc là nhiễm khuẩn tiết niệu. Vi khuẩn tiết ra men urease làm phân hủy urê, tạo thành amoniac (NH4OH). Amoniac bị phân hủy tạo thành amonium NH4+ và OH- gây kiềm hóa nước tiểu. Struvit (MgNH4PO4.6H2O) được tạo thành và trong điều kiện nước tiểu kiềm hóa thì khó hòa tan và tạo sỏi.
6. Sỏi cystin
Do rối loạn vận chuyển cystin ở ống thận và ở niêm mạc ruột, nguyên nhân do di truyền gen lặn nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể thứ 14. Sỏi cystin thường đi với một bệnh cảnh bệnh lý ống thận di truyền (đa niệu, hạ K+ máu). Loại sỏi thận này tương đối ít gặp ở nước ta.