CƠ XƯƠNG KHỚP

CƠ XƯƠNG KHỚP chuyên điều trị các bệnh lý về xương khớp, thần kinh cột sống

ĐINH VÀ NẸP VIS SAU MỔ KẾT HỢP XƯƠNG KHI NÀO THÁO1. Gãy xương khi nào điều trị bảo tồn, khi nào cần phẫu thuật?Có hai ph...
01/12/2021

ĐINH VÀ NẸP VIS SAU MỔ KẾT HỢP XƯƠNG KHI NÀO THÁO

1. Gãy xương khi nào điều trị bảo tồn, khi nào cần phẫu thuật?

Có hai phương án để điều trị gãy xương, biện pháp thứ nhất là điều trị bảo tồn (không phẫu thuật) và cách thứ hai là điều trị phẫu thuật.
Về nguyên tắc, khi gãy xương không di lệch hay là di lệch ít, những di lệch có thể chấp nhận được sẽ điều trị bằng biện pháp bảo tồn. Biện pháp bảo tồn là bó bột hoặc dùng một số nẹp để thay thế bột nhằm cố định lại xương gãy và duy trì sự lành xương.
Những trường hợp gãy xương buộc phải phẫu thuật là khi xương bị di lệch hay có biến chứng. Một số trường hợp gãy xương ở người lớn như gãy xương đùi thì bắt buộc phải phẫu thuật vì nếu điều trị bảo tồn sẽ không duy trì được sự cố định của xương, cần phải phẫu thuật để nắn chỉnh lại sự di lệch của ổ gãy và cố định bất động để giúp xương lành.
2. Đinh, nẹp kết hợp xương được làm bằng chất liệu gì, có bao nhiêu loại?
Đinh và nẹp thường có 2 chất liệu, một số loại đinh nẹp được làm bằng kim loại, có loại đinh là đinh sinh học.
Kim loại dùng làm đinh nẹp là thép không rỉ, người ta sẽ phủ lên một lớp để tránh ảnh hưởng về mặt y tế chẳng hạn như một lớp coban hay là titan. Một số trường hợp toàn bộ nẹp vít làm bằng titan luôn, giá thành sẽ rất là cao.
Một số độc giả cũng hỏi về nẹp vít tự tiêu. Trên thế giới có một số nẹp vít cũng tự tiêu hủy sau khi gắn vào cơ thể một thời gian, giá thành loại này cũng rất là cao, không được sử dụng đại trà trong việc kết hợp xương. Bởi vì điều này khiến bệnh nhân phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn. Theo tôi được biết là một cái nẹp cùng với 6 con vít thì giá là 60 triệu, do đó không phổ biến ở Việt Nam.
Ở Việt Nam chỉ sử dụng một số vít tự tiêu sinh học, tức là sử dụng một số vít dùng để cố định dây chằng trong một số trường hợp mổ nội soi.
3. Trường hợp nào dùng đinh nội tủy, trường hợp nào dùng nẹp vít?
Việc dùng đinh hay nẹp thì có 2 trường phái, việc lựa chọn phụ thuộc vào cơ sở y tế và thói quen của bác sĩ.
Một số trường hợp bắt buộc phải dùng nẹp chẳng hạn như gãy xương ở vùng gần khớp thì buộc phải dùng nẹp vít thì mới cố định được. Hoặc một số xương nhỏ có độ cong, cũng sử dụng nẹp vít.
Xương thẳng và xương dài thì bác sĩ mới đóng đinh được, chẳng hạn như gãy xương cẳng tay. Tuy nhiên, trước đây người ta dùng đinh nhưng sau này người ta dùng nẹp.
Dùng nẹp có một lợi thế là bác sĩ nắn xương nó sẽ tuyệt đối, xương sẽ chắc hơn giúp bệnh nhân hoạt động sớm.
Trong trường hợp sử dụng đinh, nó có một độ xoay và một số xương lớn, đinh đóng chặt vào tủy nên nó không xoay với điều kiện xương phải thẳng ví dụ như xương chày hay xương đùi thì thường bác sĩ sẽ chọn đinh.
Một số trường hợp có thể kết hợp đinh và nẹp như xương đòn, hay xương cẳng tay.
4. Phẫu thuật kết hợp xương có giúp xương lành nhanh hơn không?
Phẫu thuật kết hợp xương giúp xương cố định và nắn chỉnh được di lệch và bệnh nhân có thể tập vận động sớm hơn so với điều trị bảo tồn bó bột.
Tuy nhiên, quá trình lành xương là một quá trình sinh lý đòi hỏi có thời gian và phẫu thuật kết hợp xương chứ không giúp lành xương nhanh hơn, thậm chí còn lành xương chậm hơn so với điều trị bảo tồn bởi vì trong quá trình mổ sẽ làm tổn thương những mạch máu nuôi xương và màng xương, cho nên quá trình tái tuần hoàn sẽ chậm hơn dẫn đến xương nó lành chậm hơn.
Chẳng hạn như những xương nhỏ yêu cầu phải có 2-3 tháng thì các can xương sẽ chắc, còn đối với xương lớn hơn thì sự lành của xương nó sẽ kéo dài hơn, khoảng là 4 tháng, có trường hợp kéo dài tới 6 tháng.
Sau mổ, bệnh nhân cần chụp ngay X-quang để kiểm tra kết quả nắn chỉnh để xem nó có đạt yêu cầu hay không, có cần chỉnh sửa không. Nếu đã đạt yêu cầu thì sau mỗi tháng thì bác sĩ sẽ cho bệnh nhân chụp Xquang một lần để theo dõi quá trình lành xương.
5. Sau phẫu thuật kết hợp xương bao lâu nên lấy đinh, nẹp ra?
Về nguyên tắc, sau khi lành xương và đảm bảo xương đã vững chắc rồi (can xương chắc chắn rồi), lúc đó có thể lấy đinh nẹp ra. Trong trường hợp đóng đinh nội tủy, có thể bác sĩ sẽ lấy ra trong 1 năm. Đối với đặt nẹp, đây là trường hợp lành xương trực tiếp, bác sĩ sẽ lấy nẹp ra chậm hơn thường là 1.5-2 năm.
Lành xương trực tiếp là sự lành xương được hình thành do sự cốt hoá của hai mặt gãy xương với nhau. Hay còn gọi là sự lành xương với xương cùng nhau, thường không có sự phình to tại ổ gãy. Lành xương gián tiếp là sự lành xương diễn ra qua nhiều giai đoạn, tạo ổ máu tụ -> mô xơ -> mô sợi-> mô xương, thường can to phì đại ngay vị trí gãy nên can sẽ chắc chắn hơn.
6. Có trường hợp nào không cần lấy đinh nẹp xương ra hay không?
Đối với những bệnh nhân lớn tuổi, những bệnh nhân có những bệnh lý đi kèm ảnh hưởng đến sinh mệnh trong lúc phẫu thuật thì bác sĩ khuyên không nên lấy ra bởi vì việc lấy dụng cụ kết hợp xương không cần thiết nữa.
Những bệnh nhân sau 60-70 tuổi bác sĩ mổ kết hợp xương thường có những bệnh nội khoa kèm theo nhiều, vì vậy nẹp xương sẽ để luôn bởi vì khoảng thời gian còn lại của bệnh nhân không còn lâu như người trẻ và nó cũng không ảnh hưởng gì nhiều đến cuộc sống của bệnh nhân.
7. Có phải đinh, nẹp để càng lâu trong người càng khó lấy ra?
Đinh hay nẹp để càng lâu sẽ càng khó lấy ra ví dụ như mình để đinh ở trong lâu thì xương sẽ bám chặt vào đinh, bác sĩ không lấy ra được. Có trường hợp nẹp, xương để càng lâu bám vào càng chặt hoặc những can xương bò phủ qua dụng cụ khiến việc lấy ra gặp nhiều khó khăn thì không nên lấy ra nữa.
8. Tiếp tục để đinh, nẹp trong cơ thể có gây bất lợi gì không?
Có hai bất lợi, thứ nhất khi thay đổi thời tiết bệnh nhân sẽ cảm thấy bị buốt, vì các dụng cụ đó làm bằng kim loại, sẽ bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Chẳng hạn như thời tiết trở nên lạnh hơn thì bệnh nhân sẽ cảm thấy đau, hơi buốt bởi vì khi lạnh kim loại nó sẽ giảm nhiệt nhanh hơn cơ thể người, cho nên bệnh nhân sẽ hơi khó chịu.
Đối với những bệnh nhân còn trẻ, các bệnh nhân có nhu cầu đi lại khi đi qua cửa an ninh, máy kiểm soát báo động vì họ có kim loại trong người, gây phiền toái đôi chút.
Ngoài ra, một số nghiên cứu cho biết nếu bệnh nhân để quá lâu trong cơ thể, họ có khả năng nhiễm kim loại nặng. Tuy nhiên, nguy cơ rất thấp nên không vì sự tiêu đi kim loại mà bệnh nhân phải đi lấy ra, những dụng cụ đó có thể để luôn trong cơ thể.
9. Sau khi lấy đinh, nẹp ra khỏi cơ thể thì bao lâu xương sẽ lành hẳn?
Sau khi lấy đinh, thì dường như không ảnh hưởng đến xương khi đi lại. Sau khi rút, khoảng một tuần hay ngay sau khi rút người bệnh có thể đi lại được bình thường. Họ vẫn đi đứng bình thường trước khi vào mổ, sau đó ra về. Bệnh nhân chỉ bị đau vết mổ và vấn đề rút đinh không ảnh hưởng nhiều.
Còn nẹp thì có rất nhiều lỗ vít, có trường hợp phải đặt từ 10-12 vít tức là trên xương người bệnh có 10-12 lỗ. Nhưng những lỗ đinh đó ảnh hưởng không lớn. Khi bác sĩ lấy ra, họ sẽ lấy ra cẩn thận và dặn bệnh nhân tránh làm các việc nặng bởi vì nguy cơ gãy xương có thể xảy ra. Trong vòng từ 2-3 tháng, những lỗ đinh sẽ có khả năng tự bít lại.
10. Bao lâu sau ca phẫu thuật lấy đinh, nẹp, bệnh nhân có thể trở lại sinh hoạt bình thường?
Sau khi lấy đinh nẹp, thời gian hoạt động lại bình thường sẽ trở lại nhanh hơn so với thời gian đạt nẹp vào. Khi bác sĩ đặt vào, lúc ấy xương chưa lành, họ phải đợi thời gian lành xương, lúc đó họ mới cho bệnh nhân làm việc trở lại. Trong trường hợp lấy đinh nẹp, lúc ấy xương đã lành lấy ra thì lúc đó chỉ có phần mềm của vết nứt xương thôi, khi lành vết thương thì mất khoảng từ một đến hai tuần. Bệnh nhân lúc đó có thể làm việc lại.

1Hội chứng De Quervain là gì?Hội chứng De Quervain ảnh hưởng đến hai gân chi phối vận động ngón cái, đó là gân cơ duỗi n...
01/12/2021

1Hội chứng De Quervain là gì?

Hội chứng De Quervain ảnh hưởng đến hai gân chi phối vận động ngón cái, đó là gân cơ duỗi ngắn ngón cái và gân cơ dạng dài ngón cái. Hai gân này chi phối hai động tác rất quan trọng của ngón cái là duỗi và dạng ngón cái. Khi thực hiện động tác, hai gân này trượt đi trượt lại dọc theo bờ ngoài của khớp cổ tay. Ở vùng cổ tay, cả hai gân trượt trong một đường hầm nằm sát đầu dưới của xương quay. Đường hầm này có tác dụng giữ cho gân và chuyển hướng lực thực hiện động tác.
Hai gân trượt trong đường hầm được bao bọc bởi bao hoạt dịch gân, có tác dụng làm trơn để hai gân trượt được dễ dàng. Tình trạng viêm của bao hoạt dịch gân và viêm gân dẫn đến hạn chế vận động của gân trong đường hầm gọi là hội chứng De Quervain.

2Triệu chứng hội chứng De Quervain

- Sưng đau vùng đầu dưới phía ngoài xương quay, đau tăng khi vận động ngón cái, đau liên tục, đau nhiều về đêm. Đau có thể lan ra ngón cái và lan lên cẳng tay.
- Sờ thấy bao gân phía ngoài đầu dưới xương quay dày lên, có thể có nóng đỏ, ấn thấy đau chói.

- Test Finkelstein: gấp ngón cái vào trong lòng bàn tay, nắm bàn tay lại với gón cái bên trong, uốn cổ tay nghiêng về phía trụ thì bệnh nhân thấy đau chói vùng gân dạng dài và gân duỗi ngắn ngón cái.
- Siêu âm có thể thấy bao gân dày lên và có dịch bao quanh gân.

3Nguyên nhân dẫn đến hội chứng De Quervain

- Thường là do quá tải, tức là do vận động cổ tay quá nhiều. Bệnh thường gặp ở phụ nữ tuổi trung niên. Ngoài ra, bệnh cũng có thể gặp ở phụ nữ có thai hoặc những người bị viêm khớp dạng thấp.
- Những động tác lặp lại nhiều lần như cầm, nắm, xoay, vặn của cổ tay và ngón cái sẽ là điều kiện thuận lợi dẫn đến tổn thương này. Tình trạng viêm của bao hoạt dịch gân trong đường hầm sẽ dẫn đến sưng nề, cản trở vận động của gân.
- Các tình trạng tổn thương viêm khớp như thấp khớp, thoái hoá sẽ ảnh hưởng đến tình trạng viêm của bao gân và gân ngón cái.
- Một số yếu tố thuận lợi khác như chấn thương dẫn đến hình thành các sẹo cũng ảnh hưởng đến sự trượt của gân này.

4Điều trị hội chứng De Quervain

Điều trị nội khoa

- Cần có thời gian nghỉ giữa chừng nếu bạn phải thực hiện các động tác lặp đi lặp lại của cổ tay liên tục trong công việc.
- Tránh những động tác phải sử dụng cổ tay lặp đi lặp lại như nắm, duỗi, cầm, xoắn... nói chung là tránh các động tác gây ra đau.
- Mang nẹp để bất động cổ và ngón cái. Nẹp này cho phép ngón cái nghỉ ngơi, tạo thuận lợi để cải thiện các triệu chứng viêm.
- Các thuốc điều trị có thể giúp kiểm soát triệu chứng viêm và các triệu chứng đau. Những thuốc này có thể là các thuốc chống viêm giảm đau thông thường như ibuprofen và cececoxib, meloxicam...
- Tiêm corticoid tại chỗ vào đường hầm khi các biện pháp trên không hiệu quả. Thuốc này có tác dụng giảm viêm tại chỗ và có thể cải thiện triệu chứng ngay lập tức.
- Tập vật lý trị liệu để phục hồi chức năng.

Phẫu thuật

Nếu điều trị nội khoa thất bại, bạn có thể cần đến can thiệp phẫu thuật. Mục tiêu của phẫu thuật là tạo ra nhiều không gian hơn cho gân hoạt động để gân không bị cọ xát vào đường hầm nữa. Phẫu thuật này có thể thực hiện dưới gây mê toàn thân hoặc tê tại chỗ. Bác sĩ sẽ thực hiện đường rạch mở đường hầm để loại bỏ tất cả tổ chức xơ bên trong đường hầm và tạo ra nhiều khoảng trống để gân di chuyển.

5Phòng ngừa hội chứng De Quervain

- Tránh các hoạt động bàn tay, cổ tay lặp đi lặp lại trong thời gian dài, đặc biệt các động tác phải thường xuyên gồng ngón tay cái.
- Nghỉ ngơi hợp lý.
- Thực hiện các bài tập cho gân khớp vùng cổ tay.
- Không nên xoa bóp rượu thuốc, dầu nóng vì dễ làm tình trạng viêm nặng thêm.
- Không nên nắn bẻ khớp vì sẽ làm tổn thương thêm gân khớp.
- Chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, nhất là phụ nữ khi mang thai, sau sinh.
- Bổ sung can xi, dùng sữa và các chế phẩm từ sữa…

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP GỐI1. Thoái hóa khớp là căn bệnh như thế nào?Viêm xương khớp còn được gọi là tho...
01/12/2021

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP GỐI
1. Thoái hóa khớp là căn bệnh như thế nào?
Viêm xương khớp còn được gọi là thoái hóa khớp, đây là bệnh viêm khớp thường gặp nhất và ảnh hưởng đến hàng triệu người trên thế giới. Viêm xương khớp có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt từ 40 tuổi trở lên và rất phổ biến ở người trên 65 tuổi. Viêm xương khớp có thể gặp ở người trẻ do những chấn thương tại khớp.
Sụn khớp đóng vai trò quan trọng như tấm đệm bao bọc lấy các đầu khớp, giúp bảo vệ và giảm ma sát, khiến cho các khớp khi vận động không va chạm với nhau và trượt lên nhau một cách trơn tru. Khi tấm đệm này bị tổn thương, vỡ hoặc mòn đi sẽ khiến cho các xương dưới sụn va chạm vào nhau, dẫn đến sưng, gây cảm giác đau và giảm khả năng vận động. Ở giai đoạn cuối của viêm xương khớp, khi sụn khớp bị bào mòn thì các xương liên kết có thể bắt đầu chà xát với nhau dẫn đến tổn thương khớp và đau nhiều hơn.
Viêm khớp gối hay thoái hóa khớp gối là hậu quả của sự lão hóa các tế bào sụn khớp, sự mất cân bằng giữa tổng hợp và phân hủy của sụn, xương dưới sụn gây ra những thay đổi về hình thái, sinh hóa, loét, nứt, mất sụn khớp, xơ hóa xương dưới sụn.

2. Điều trị thoái hóa khớp gối
Một số phương pháp điều trị thoái hóa khớp gối tập trung làm ngăn cản hoặc làm chậm lại quá trình thoái hóa thông qua thủ thuật ít xâm lấn hoặc can thiệp sớm hơn khi bệnh mới tiến triển. Các phương pháp không xâm lấn như: tiêm hyaluronic acid (HA), corticosteroids, sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), vật lý trị liệu. Ứng dụng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều trị viêm khớp gối ngày càng được sử dụng phổ biến và mang lại nhiều hiệu quả tích cực (Hình 2).

3. Huyết tương giàu tiểu cầu – liệu pháp điều trị tiềm năng
Khác với thuốc điều trị thoái hóa khớp gối, huyết tương giàu tiểu cầu (Platelet rich plasma – PRP) là sản phẩm quý giá được tạo ra từ máu tự thân có chứa hàm lượng tiểu cầu cao hơn nhiều so với lượng tiểu cầu trung bình trong máu ngoại vi. Tiểu cầu chứa một lượng lớn các protein, các nhân tố tăng trưởng quan trọng tham gia vào nhiều quá trình cầm máu, chữa lành vết thương và tái tạo mô.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) giúp giảm hiện tượng sưng đau và cải thiện chức năng vận động của xương khớp, đặc biệt là trong điều trị thoái hóa khớp gối hiệu quả hơn so với các phương pháp điều trị khác (tiêm Hyaluronic Acid, Corticosteroids).
Năm 2020, nghiên cứu của Raeissadat và cộng sự đánh giá hiệu quả của huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) tới quá trình chữa lành tổn thương sụn khớp cho 23 bệnh nhân nữ (58 tuổi) thoái hóa khớp gối thông qua MRI. So với nhóm đối chứng (tiêm Hyaluronic Acid) thì nhóm được điều trị với PRP cho các đặc điểm: thể tích khớp xương bánh chè, viêm màng hoạt dịch, sự phân hủy sụn ở giữa và bên đều được cải thiện đáng kể. Nghiên cứu của Sakata chứng minh rằng PRP tham gia vào quá trình chữa lành tổn thương sụn khớp (tái tạo sụn khớp, tăng thể tích hoạt dịch). Hơn nữa, PRP làm chậm lại quá trình thoái hóa sụn khớp bằng cách thúc đẩy sự tăng sinh, di chuyển và biệt hóa của tế bào gốc trung mô trở thành tế bào sụn khớp.
Kon và các cộng sự đã báo cáo về hiệu quả sử dụng PRP trong điều trị cho 40 bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Sau 6 tháng với 3 lần tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP), các triệu chứng sưng đau giảm rõ rệt. Đặc biệt, 33% những bệnh nhân trên 60 tuổi và 85% bệnh nhân dưới 60 tuổi cảm thấy hài lòng với kết quả điều trị. Kết quả cũng tương tự trong báo cáo của Sanchez và các cộng sự đánh giá hiệu quả điều trị của PRP so sánh với nhóm chỉ được điều trị bằng cách tiêm Hyaluronic Acid. Sau 5 tuần với 3 lần tiêm PRP, nhóm được tiêm PRP (30 bệnh nhân) giảm 33.4% sưng đau, trong khi nhóm chỉ được tiêm Hyaluronic Acid giảm 10% sưng đau khớp gối.
Năm 2020, nghiên cứu của Ren và cộng sự đã sử dụng phương pháp siêu phân tích (meta-analysis) để làm rõ liệu rằng PRP có thật sự hiệu quả trong điều trị thoái hóa khớp gối hay không. Nghiên cứu đánh giá trên 5 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với tổng cộng 320 bệnh nhân. Kết quả cho thấy, tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) vào khớp bị viêm giúp giảm sưng, đau sau phẫu thuật, cải thiện chức năng vận động và nâng cao chất lượng cuộc sống cho chính người bệnh.
Liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu là một trong những phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả, bởi nó là sản phẩm của máu tự thân nên giảm thiểu được các nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm (HIV, viêm gan B,C) và không gây đáp ứng miễn dịch. Đặc biệt, huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) là phương pháp điều trị không xâm lấn, nhiều nghiên cứu chứng minh PRP giảm thiểu tối đa xuất hiện các biến chứng, rút ngắn thời gian điều trị. Hơn nữa, quá trình phân tách PRP rất đơn giản, dễ thực hiện nên chi phí thấp hơn nhiều so với các phương pháp điều trị xương khớp khác. Do đó, PRP là một trong những lựa chọn hàng đầu trong điều trị viêm xương khớp, đặc biệt là thoái hóa khớp gối.

NGÓN TAY LÒ XO là tình trạng viêm bao gân của các gân gấp các ngón tay gây chít hẹp bao gân. Một số trường hợp gân gấp b...
30/11/2021

NGÓN TAY LÒ XO là tình trạng viêm bao gân của các gân gấp các ngón tay gây chít hẹp bao gân. Một số trường hợp gân gấp bị viêm xuất hiện cục viêm xơ, làm di động của gân gấp qua vùng ngón tay bị cản trở. Mỗi lần gấp hay duỗi ngón tay rất khó khăn, bệnh nhân phải cố gắng mới bật được ngón tay ra hoặc phải dùng tay bên lành kéo ngón tay ra như kiểu ngón tay có lò xo.
NGUYÊN NHÂN:
– Thường gặp ở nữ, đặc biệt ở phụ nữ mang thai, cho con bú, tiền mãn kinh.
– Các bệnh lý về khớp như: viêm khớp dạng thấp, gout.
– Đái tháo đường.
– Chấn thương vùng cổ – bàn tay lặp lại.
– Bệnh nghề nghiệp cần sử dụng đến cổ – ngón tay nhiều.
– Không rõ nguyên nhân.
Bệnh ngón tay lò xo là tình trạng viêm bao gân của các gân gấp các ngón tay gây chíp hẹp bao gân
CHẨN ĐOÁN
– Dựa vào triệu chứng lâm sàng tại chỗ.
– Đau ngón tay có thể bị kẹt ở tư thế gấp vào lòng bàn tay hoặc duỗi thẳng.
– Khám ngón tay có thể có sưng.
– Có thể sờ thấy cục viêm xơ trên gân gấp ngón tay ở vị trí khớp đốt bàn ngón tay. Cục viêm xơ di động khi gấp duỗi ngón tay.
ĐIỀU TRỊ
Tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh có thể lựa chọn các phương pháp phù hợp:
– Nghỉ ngơi, giữ ấm, vật lý trị liệu.
– Bất động bằng nẹp ngón.
– Thuốc NSAID toàn thân, tại chỗ.
– Tiêm steroid vào bao gân.
– Phẫu thuật giải phóng ròng A1 XỬ LÝ DỨT ĐIỂM BỆNH, KHÔNG BỊ TÁI PHÁT

Address

Quang Nam

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when CƠ XƯƠNG KHỚP posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram